ACCEPTING DIVERSITY: AN INTERACTIVE HANDBOOK IN PROGRESS
* * *
CHẤP
NHẬN SỰ ĐA DẠNG
MỘT CẨM
NANG CÓ TÍNH TƯƠNG TÁC VÀ CHƯA HOÀN TẤT
Nguyễn
Thị Hoàng An, Phạm Hồng Anh và Hoàng Đại Dương dịch
dựa trên bản
tiếng Anh của Académie Universelle des Cultures[1]
Biên tập và hiệu
đính: Hoàng Đại
Dương[2]
Cần phải
có sự đồng ư của nhóm biên dịch trước
khi sử dụng (bao gồm cả việc đăng lại
trên một diễn đàn hay trang web khác) một phần hay
toàn bộ nội dung của bản dịch này.
Lời giới thiệu -Umberto Eco
1. KHÁC NHAU MÀ VẪN
B̀NH ĐẲNG!
1.1 Thế gian này có sự
khác biệt!
1.2 Chúng ta có thể không thích
một số khác biệt.
1.4 Chấp nhận sự
khác biệt là cách tiện lợi cho mọi người.
2. TÔN GIÁO
Ư tưởng tiền căn
bản -Umberto Eco
2.1. Có nhiều tôn giáo khác nhau
trên thế giới.
2.2. Một số người
định nghĩa con người là động vật
tôn giáo.
2.3. Có thể có những thái
độ khác nhau đối với những người
thuộc về một tôn giáo khác.
3.1 Lănh thổ.
3.2 Biên giới.
…
Umberto Eco
Mục
đích của cuốn sách này là ǵ?
Đây là cẩm nang dành cho những ai
có ư định giáo dục giới trẻ chấp nhận
sự đa dạng. Họ có thể là giáo viên đứng
lớp hoặc là những người muốn tổ chức
một khóa học về sự đa dạng. Chúng tôi không
giới hạn độ tuổi các em tham gia những khoá
học như thế này. Người dạy sẽ phải
quyết định cho phù hợp, tuỳ vào nơi chốn
cũng như các t́nh huống cụ thể.
Tại
sao lại là “chưa hoàn tất”?
Theo hai nghĩa. Trước hết,
những ǵ bạn đang đọc ở đây là những
chương đầu của cuốn cẩm nang. Các
chương khác đang tiếp tục được viết
(xem mục lục). Dựa
trên những phản hồi mà chúng tôi nhận được,
những chương kế tiếp có lẽ sẽ
được thay đổi tí chút, và một số chủ
đề khác có thể được thêm vào. Thứ nữa,
những chương này cũng chưa hoàn tất, v́ rằng
nó sẽ được bổ sung dần dần khi bạn
gởi cho chúng tôi những gợi ư cũng như kể cho
chúng tôi nghe những kinh nghiệm của bạn.
Tại
sao lại là “tương tác”?
Nhiệm vụ của các biên tập
viên chỉ là đưa ra những gợi ư, những đề
nghị và các ví dụ. Bản thân các nhà giáo dục sẽ
phải nghĩ ra giải pháp cho chính họ dựa trên t́nh
huống mà họ điều hành. Nếu những giải
pháp này tỏ ra thú vị và cho kết quả tốt th́ xin
vui ḷng kể cho chúng tôi hay. Bằng cách này, nội dung của
mỗi chương sẽ được tăng cường
hàng ngày khi chúng tôi bổ sung vào nó các đề nghị của
bạn (hoặc tổng hợp lại nếu như qúa dài
hay có nhiều đề nghị giống nhau).
Tại
sao chúng tôi chỉ đưa ra các ví dụ?
Bởi v́ cẩm nang này hướng
đến các nhà giáo dục trên toàn thế giới. Một
vấn đế cụ thể hay một kinh nghiệm giáo
dục có thể phù hợp cho một đứa trẻ ở
Phi châu nhưng có thể không áp dụng được cho một
trẻ em ở châu Á. Họ sẽ phải sửa đổi
các ví dụ của chúng tôi cho phù hợp với bối cảnh
văn hóa của họ. Tuy vậy, biết được
kinh nghiệm của người khác th́ cũng thật thú
vị. Biết đâu một người ở quốc gia
này có thể có được những gợi ư hữu ích
sau khi đọc được kinh nghiệm của một
người ở quốc gia khác.
Mục lục
dự tính
1. Khác nhau mà vẫn b́nh
đẳng!
2. Tôn giáo
3. Đây là chỗ của
tôi!
4. Nam giới và nữ giới
5. Chướng ngại
6. Đa dạng mà ḥa hợp
7. Quy tắc vàng và kẻ
phá đám
8. Chủ nghĩa khủng
bố
Các
chương được cấu trúc như thế nào?
Mỗi chương có các phần sau:
- Những ư
tưởng cơ bản: diễn tả đơn giản
dễ hiểu các khái niệm cơ bản cần truyền
đạt.
- Phần khai
triển: triển khai các khái niệm cơ bản bằng
các lư luận phức tạp hơn, dẫn người
đọc đến với các trích
dẫn nguyên gốc khi cần thiết để giúp có
một cái nh́n sâu sắc hơn về các lư lẽ vừa
tŕnh bày. Phần này có lẽ quá trừu tượng và khó hiểu
đối với các em c̣n nhỏ. V́ thế người dạy
có thể chỉ sử dụng chúng để hướng
dẫn các cuộc tranh luận và không nhất thiết yêu cầu
các em phải đọc các phân tích chuyên sâu. Tuy nhiên, chúng tôi
tin rằng, những phần như thế này rất quan trọng
đối với các nhà giáo dục cũng như đối
với các học sinh lớn tuổi, theo đó nó giúp tạo
nên cấu trúc lư luận dựa trên cơ sở các ư tưởng
cơ bản cũng như giúp tạo sự hứng khởi
trong các cuộc thảo luận nhóm.
- Các ví dụ
minh họa nảy sinh từ các ư
tưởng cơ bản. Chúng đủ phổ quát và
có tính quốc tế để có thể sử dụng
trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. Người dạy
cũng có thể bổ sung thêm tư liệu thực tế
trong những t́nh huống cụ thể.
- Phần bài
tập: mục đích là để giúp các em tham gia vào
các hoạt động nhóm và các tṛ chơi giúp củng cố
sự cảm thụ các ư tưởng cơ bản bằng
cách mang đến cho chúng một h́nh thức cụ thể,
dễ h́nh dung. V́ rằng cẩm nang này chưa hoàn tất,
chúng tôi kêu gọi mọi người gởi cho chúng tôi các
báo cáo về các kinh nghiệm giáo dục đă thử qua và
đă được kiểm tra (đây là chức năng
cơ bản của phần liên
lạc) để sau đó chúng tôi có thể quyết
định xem có đưa chúng vào phần này hay không.
- Phần trích
dẫn cung cấp các trích đoạn dài ngắn khác nhau
có vai tṛ tăng cường hay củng cố sự cảm
thụ về các phần trước đó. Chúng bao gồm
các trích đoạn có tính triết lư, các giai thoại và chuyện
kể, các báo cáo nghiên cứu v.v…
- Cuối cùng, phần liên lạc cho phép người dạy, cũng như
chính các em đang học, gởi phản hồi đến
các biên tập viên, bằng các nhận xét, các ví dụ cụ
thể, các bài tập mà ư nghĩa của nó đă được
chứng minh. Một phần thông tin sẽ được
đưa vào các mục khác nhau.
Làm thế
nào để tham gia?
Như chúng tôi đă nói, bằng việc
chia sẻ những ư tưởng và kiểm điểm kinh
nghiệm cá nhân của bạn. Bạn cũng có thể gợi
ư thêm các đoạn trích dẫn.
Đừng ngại nếu cảm thấy
những kinh nghiệm, hay những đoạn trích dẫn
mà bạn đề nghị có thể chỉ thích hợp
cho những trẻ em ở một nơi nào đó, nói một
thứ tiếng nói nào đó hay thuộc về một tôn
giáo nào đó. Trước hết, hăy để cho người
khác xem kinh nghiệm của bạn có là nguồn cảm hứng
khiến họ nghĩ ra các giải pháp phù hợp với
những hoàn cảnh của họ hay không. Hơn nữa, nếu
chúng tôi nhận được nhiều gợi ư phù hợp
cho trẻ em ở một nơi nào đó, thuộc về một
tôn giáo nào đó, chúng tôi sẽ mở một số mục
nhỏ (chẳng hạn, mục nhỏ chứa các bài viết
dành cho các trẻ em Hồi giáo v.v…)
Bạn
có thể liên hệ với ai?[3]
Hai biên tập viên của cẩm nang
này là Valentina (chịu trách nhiệm bản
tiếng Anh và tiếng Ư) và Myriam (chịu trách nhiệm bản
tiếng Pháp). Họ sẽ giữ liên lạc với những
ai trong số các bạn gởi thư đến cho chúng
tôi. Ngoài ra, nếu nh́n vào trang nhà của Académie Universelle des Cultures bạn
sẽ thấy thành viên của Viện là các nhà văn, nghệ
sĩ và khoa học gia trên toàn thế giới. Nếu bạn
muốn biết ư kiến, xin gợi ư hay lời khuyên từ
bất kỳ ai trong số các vị này, xin cứ viết
thư cho chúng tôi, Valentina và Myriam sẽ chuyển yêu cầu
của bạn đến người mà bạn muốn.
1. KHÁC
NHAU MÀ VẪN B̀NH ĐẲNG!
NHỮNG Ư TƯỞNG CƠ BẢN
1.1 Thế gian này có sự
khác biệt!
1.2 Chúng ta có thể không
thích một số khác biệt
1.3 Khác nhau cũng tốt!
1.4 Chấp nhận sự
khác biệt là cách tiện lợi cho mọi người
1.1 THẾ
GIAN NÀY CÓ SỰ KHÁC BIỆT
Chúng ta
không trở nên b́nh đẳng cho dù có phủ nhận sự
khác biệt. Sự khác biệt vẫn luôn tồn tại và
cần được nh́n nhận.
Con người là những cá thể
độc lập, không ai giống ai. V́ vậy tồn tại
những sự khác biệt là điều hiển nhiên. Một
số khác biệt có được là
nhờ việc thừa hưởng
những yếu tố di truyền, chẳng hạn
như màu da, màu mắt, tóc, h́nh dáng cơ thể, đặc
điểm khuôn mặt v.v… V́ vậy mỗi người
đều có những đặc điểm nhân cách riêng, một
phần được quyết định bởi môi
trường sống, một phần nhờ vào sự
giáo dục.
Cuối cùng, mỗi chúng ta đều
thuộc về một nền văn hóa nhất định,
v́ thế chúng ta có bản sắc văn hóa.
1.1.1 KHAI
TRIỂN…
1.1.1.1 Ai
cũng thuộc về một nền văn hóa nào đó
Văn
hoá được hiểu là cách mà các cá nhân trong một cộng
đồng nhất định sống và suy nghĩ.
Để hiểu các khái niệm “sự
khác biệt” và “bản sắc” bạn sẽ phải
thường xuyên nhờ đến khái niệm văn hóa. Ở
đây chúng tôi sử dụng khái niệm văn hóa theo định
nghĩa của ngành nhân học văn hóa[4]. Điều này rất
quan trọng v́ nó giúp tránh được những khái niệm
“nguy hiểm” chẳng hạn như những khái niệm về
các nhóm dựa trên chủng tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, cho dù
khái niệm này phức tạp như thế nào, ta vẫn
có thể giải thích cho trẻ hiểu dễ dàng. Mỗi
chúng ta sinh ra đều có gia đ́nh, ông bà, cha
mẹ, có nơi chôn nhau cắt rốn, chúng ta sẽ nói
chung thứ tiếng nói với những
người xung quanh, có cùng cách phục sức, ăn những
loại thức ăn giống nhau, sống trong những kiểu
nhà tương tự về kiến trúc, cùng chung quan điểm
về cái Thiện, cái Ác, có thể cùng theo một tôn giáo (hoặc
sống với những người theo tôn giáo đó, và thấy
những nơi thờ phụng có kiểu cách riêng như
nhà thờ, thánh đường, chùa chiền, v.v..),
cùng chia sẽ những quy tắc về các hành vi ứng xử,
tuân thủ các luật lệ giống nhau, và được
dạy những vấn đề về khoa học, nghệ
thuật, lịch sử… dựa trên chuẩn kiến thức
như nhau. Tập hợp những niềm tin, thói quen, ư
tưởng... này được gọi chung là văn hóa.
Đôi khi, để làm cho trẻ có ư
thức được bản sắc văn hóa của
mình, bạn cần chỉ cho trẻ thấy được
sự khác biệt về văn hóa ở những
người sống trong những môi trường văn
hoá không giống chúng (như nói thứ tiếng khác, phục
sức khác, sống trong những kiểu nhà có kiến trúc
khác..). Phải làm cho trẻ hiểu rằng, ở đây
chúng ta không bàn đến văn hóa như một khái niệm
cao siêu nào đó mà chỉ đơn giản là cách chúng ta sống,
cho dù anh có là một vị giáo sư hay chỉ một anh
nông dân chân lấm tay bùn th́ cả hai đều có thể
cùng thuộc về một nền văn hóa nhất định.
Bạn phải chỉ cho thấy rằng
sự khác biệt về mặt văn hóa c̣n bao gồm cả
sự khác nhau trong cách ăn uống, chẳng hạn
như ăn bốc hay dùng dao, nĩa, đũa...[xem thêm 1.1.2.6]; và rằng việc
sử dụng những loại công cụ nào đó hay sử
dụng các phương tiện chuyên chở nào đó cũng
là một phần của bản sắc văn hóa, v.v. và
v.v…
Trong một số trường hợp,
việc chấp nhận một truyền thống chung cũng
tạo nên bản sắc văn hóa riêng. Tuy nhiên, một nền
văn hóa không chỉ có những yếu tố truyền thống
mà bao gồm cả những yếu tố cách tân. Lấy ví
dụ, một chiếc xe hơi được phát minh tại
châu Âu không liên quan đến nền văn hóa truyền thống
Nhật Bản, nhưng rơ ràng máy móc làm ra ngày nay ở Nhật
Bản sẽ mang giá trị của nền văn hoá hiện
đại Nhật, cùng những chiếc xe hơi Nhật
với những đặc tính điển h́nh. Cũng
như bánh pizza trước
kia là món ăn truyền thống của người Ư
nhưng giờ đây nó cũng trở thành món truyền thống
của nhiều quốc gia. Có một thời, tơ lụa
là đặc trưng văn hóa của người Trung Hoa
mà những bí mật về qui tŕnh sản xuất luôn
được giữ kín, vốn được cả thế
giới du nhập. Ngày nay đồ tơ lụa đă trở
thành một trong những nét văn hóa của nhiều
nước.
Nếu người học sống
trong một môi trường đa văn hóa (chẳng hạn
ở NewYork, nơi có nhiều cộng đồng văn
hóa khác nhau cùng chung sống) sẽ dễ dàng nhận thấy
được những khác biệt về văn hóa và cách
người ta ǵn giữ những đặc trưng
văn hóa riêng của ḿnh hoặc chấp nhận thích nghi với
hoàn cảnh hiện tại như thế nào. Chẳng
hạn, người Ấn
Độ ở New York có thể ăn theo lối truyền
thống ở một tiệm ăn Ấn Độ hay cũng
có thể gọi món hamburger ở một tiệm café như
hầu hết mọi người.
Rơ ràng
người ta có thể khước từ cái nền
văn hóa mà ḿnh đang sống bằng cách chuyển đến
sống ở một nơi khác, thay đổi tôn giáo tín
ngưỡng, hay cố gắng cải biến thói quen và
thay đổi quan điểm của đồng bào ḿnh.
Tuy nhiên, ngay cả khi chối bỏ một khung cảnh
văn hóa sẵn có, người ta cũng phải thừa
nhận sự tồn tại và hiểu cái “lô-gích” của
cái nền văn hóa mà họ thách thức.
1.1.1.2 Bản
sắc cá nhân
Bản sắc
cá nhân chính là tập hợp những đặc điểm
làm cho người ta không ai giống ai về mặt h́nh thể,
tính cách, cùng những nét văn hóa khác
biệt.
Bản sắc cá nhân ít nhất
được quyết định một phần bởi
môi trường mà chúng ta được giáo dưỡng:
khi mới được sinh ra người ta có khả
năng lĩnh hội và hấp thụ bất kỳ một
loại ngôn ngữ hay một kiểu mẫu văn hóa nào.
Chỉ khi lớn lên, chúng ta mới “cắm rễ” vào cái xă
hội mà ḿnh đang sống qua việc phát triển một
tập hợp các sở thích, niềm tin và những nguyên tắc
hành xử mà phần lớn được ta tuân theo (dù muốn
hay không) trong cộng đồng mà ta sống. Chẳng
ai có thể sống một ḿnh cả. Con
người là những sinh vật xă hội, không ai có
thể tồn tại mà không cần đến người
khác. Tất cả chúng ta đều đồng hóa ḿnh với
cộng đồng qua việc bắt chước hành vi của
người mà ta ngưỡng mộ, và nói chung là tạo
nên bản sắc riêng của ḿnh theo các yếu tố tác
động từ môi trường bên ngoài. Ảnh hưởng
của môi trường sống lên bản sắc cá nhân biểu
hiện qua nhiều khía cạnh trong đời sống hằng
ngày, gồm cả cái cách chúng ta đi đứng, hoa chân
múa tay khi nói [xem thêm 1.1.4.3].
Cuối cùng, có vẻ như chúng ta lĩnh hội những
qui tắc xă hội một cách quá thuần thục đến
nỗi ta cảm thấy chúng hoàn toàn tự nhiên, nếu
không muốn nói đó là phương cách duy nhất.
Về mức độ ảnh hưởng
của môi trường lên sự h́nh thành nhân cách, để
cho dễ hiểu, ta hăy tưởng tượng có hai đứa
trẻ sinh đôi hoàn toàn giống nhau, được giao
cho hai gia đ́nh ở hai quốc gia khác nhau nuôi nấng. Có
thể thấy là cho dù hai đứa bé này được
thừa hưởng cùng những đặc tính di truyền
th́ cuối cùng chúng vẫn sẽ trở nên rất khác nhau.
Thậm chí, ngay cả khi sống cùng trong một nhà
nhưng chúng vẫn không giống nhau nếu một đứa
thần tượng một ngôi sao màn bạc nào đó, c̣n
đứa kia th́ hâm mộ một vận động viên
siêu hạng. Một trong hai đứa có những biểu
hiện tự phát liên quan đến thứ chúng quan tâm,
như ủng hộ (hay chống đối) đối với
những kiểu cư xử của thần tượng
và “học hỏi” theo cách của riêng ḿnh.
1.1.1.3 Sự
đa dạng
Sự
đa dạng là cần thiết và dĩ nhiên chúng ta nên xem
xét nó.
Trong cuộc sống, chúng ta thường
hay so sánh những bản sắc riêng của ḿnh và người
khác, lấy ví dụ một trong những điều khác nhau đầu tiên mà chúng ta nhận thấy
là ở nam và nữ, và khi chúng ta xác định ḿnh ("Tôi
là con gái" hoặc "Tôi là con trai") th́ chúng
ta đă xây dựng bản sắc giới tính của bản
thân. Những khác biệt có thể nh́n thấy từ
bản thân và những người xung quanh (thể chất,
tâm lư, văn hóa, tôn giáo…) cho phép chúng ta phân chia và chọn cho
ḿnh một không gian sống trong thế giới đó. Ai cũng
có khả năng tự xác định ḿnh thông qua một
chuỗi các thuộc tính làm cho ḿnh giống người này
khác người kia. Nếu có một người đến
từ một đất nước khác, một nền
văn hóa khác th́ sự khác biệt của cô ta/anh ta thu hút sự
ṭ ṃ chú ư của chúng ta nhiều hơn là nếu người
ấy có cùng môi trường sống với ḿnh, bởi v́
so với chúng ta th́ người này, ngoài những khác biệt
mang tính cá nhân c̣n có thêm những khác biệt về mặt
văn hóa nữa.
Trẻ nhỏ
phản ứng trước những thứ mới, lạ
với những cảm giác vừa lo lắng vừa ṭ
ṃ: bản năng khám phá cuốn hút trẻ đến thế
giới mà chúng chưa biết, trong khi đó bản năng
tự vệ làm chúng hoài nghi về những cái chúng chưa
quen. Sự dao động thường xuyên giữa khát vọng
khám phá điều chưa biết và nhu cầu về
sự an toàn tuỳ thuộc ít hay nhiều vào cá
tính phiêu lưu, mạo hiểm của trẻ. Điều
này có thể thấy rơ khi trẻ tập đi: sau khi bước
một vài bước đến thế giới “chưa biết”
th́ vội rụt trở về trong ṿng tay mẹ.
Do đó, trẻ trong độ tuổi
từ 3 đến 4 khi gặp một người không cùng
màu da, phục sức khác lạ, nói thứ tiếng khác,
chúng sẽ bày tỏ một hoặc tất cả các cảm
giác ṭ ṃ, hoang mang, hay rụt rè. Chúng sẽ quan sát xem những
người xung quanh chúng làm ǵ (đặc biệt là
nh́n cách bố mẹ chúng làm) để có được những
gợi mở cần thiết về cách cư xử
thích hợp với người lạ nọ.
Thường th́ phản ứng của trẻ không bị
tác động nhiều bởi những điều người
lớn nói mà là qua những ǵ họ làm. Đôi khi các bâc phụ
huynh nói rằng “Tất cả chúng ta đều như
nhau.“ nhưng hành động của họ lại không bày tỏ
thiện chí lắm đối với cái khác biệt. Nếu
trẻ nhận thấy những người lớn quanh
chúng ẩn chứa những thái độ thù địch
hay chống đối với những người lạ,
chúng có xu hướng “về phe“ với những người
giống chúng và quay ra tấy chay, chế nhạo những
người khác ḿnh
Nhiều nhà văn, triết gia đă
lưu tâm đến phản ứng của chúng ta đối
với những sự khác biệt về văn hóa, chẳng
hạn, xem một câu chuyện có liên quan do David Hume kể lại
[mục 1.1.4.1].
1.1.2 VÍ DỤ
(…)
1.1.3 BÀI TẬP
(…)
1.1.4 TRÍCH
DẪN
1.1.4.1 David Hume, “Về sự nghi ngờ hay tin chắc”
Lần
nọ ở
David Hume,
"With regard to doubt or conviction", The Natural History of Religion
(1749-51)
1.1.4.2 Edward T. Hall, Cái Chiều Ẩn Giấu
Khứu
giác đóng một vai tṛ quan trọng trong đời sống
của người Ả-rập. Nó không những là một
trong những cơ chế thiết lập khoảng cách mà
c̣n là một phần tất yếu của một hệ thống
hành vi phức tạp. Người Ả-rập thường
xuyên phả hơi thở vào mặt người khác khi nói
chuyện. Tuy vậy, thói quen này không đơn thuần chỉ
là vấn đề tập quán khác biệt. Đối với
người Ả-rập, mùi thơm mang lại sự dễ
chịu và là dấu hiệu chứng tỏ sự gần gũi
trong giao tiếp. Ngửi mùi của bạn ḿnh không chỉ
tốt mà c̣n được mong muốn, việc không cho
người khác “thưởng thức” mùi vị của
ḿnh là việc làm đáng xấu hổ. Người Mỹ th́ ngược lại, họ
được dạy rằng phả hơi thở vào mặt
người khác khi nói chuyện là điều vô cùng xấu
hổ chứ không hề lịch sự chút nào.
Edward T.
Hall, The Hidden Dimension,
1.1.4.3 David Efron, Cử Chỉ, Chủng Tộc và
Văn Hóa
Năm
1941, David Efron xuất bản một nghiên cứu có tựa
đề “Cử Chỉ, Chủng
Tộc và Văn Hóa”, trong đó ông ta phân tích hành vi cử
chỉ của các nhóm di dân Ư và Do Thái sống ở Mỹ.
Efron phát hiện ra rằng trong khi nói chuyện hai nhóm này làm
các cử động đầu, thân, tay rất khác nhau. Chẳng
hạn, người Ư rất tự nhiên thoải mái khi thực
hiện các cử chỉ trong lúc nói chuyện trong khi người
Do Thái th́ cứ “cứng đơ” ra. Ngoài ra, người
Do Thái gốc Á hay Phi thường túm lấy tay người
đối diện khi nói chuyện và làm cử chỉ nhiều
hơn hẳn người Ư, trong khi đó người Ư sử
dụng vố số nhiều cử chỉ khác nhau để
diễn tả nhiều nội dung riêng biệt.
Efron
cũng đă nghiên cứu thế hệ hậu duệ
đầu tiên của hai nhóm di dân trên và thấy rằng những
ai đă bị đồng hóa vào văn hóa Mỹ khá nhiều
th́ không c̣n giữ được phong cách điệu bộ
cử chỉ của cha mẹ họ bao nhiêu, trong khi đó
người nào c̣n gắn bó với truyền thống th́
c̣n giữ lại được lối biểu hiện
qua cử chỉ của tổ tiên họ. Kết luận
mà Efron thu được đó là: tuỳ thuộc vào các môi
trường sống và các nguồn gốc văn hóa mà
người ta có những cách biểu hiện qua cử chỉ
khác nhau.
David Efron,
Gesture, Race and Culture,
1.1.4.4
Tại
sao người Trung Quốc lại không thích sữa và những
sản phẩm làm từ sữa? Tại sao người Nhật
sẵn sàng cảm tử, một điều mà dường
như rất xa lạ đối với người Mỹ?
Tại sao một số nơi cho rằng sự kế
thừa có được là nhờ cha, một số
nơi cho rằng nhờ mẹ và có nơi lại cho rằng
nhờ cả cha lẫn mẹ. Những thói quen của
chúng ta không phải do Ông Trời hay Số Mạng tạo
ra, cũng chẳng phải v́ thời tiết ở Trung Quốc
th́ khác so với thời tiết ở Mỹ và Nhật Bản.
Đôi khi cảm nhận chung của số đông cho câu trả
lời gần giống với câu trả lời của những
nhà nhân học:“Bởi v́ chúng ta đă được nuôi dạy
như vậy“. Các nhà nhân học định nghĩa
“văn hóa” là toàn bộ cách sống của con người,
đó là những ǵ người ta được thừa kế
về mặt xă hội khi chung sống trong cộng đồng.
Văn hóa cũng được xem là cái phần của môi
trường sống do con người tạo nên.
Thuật
ngữ này có ư nghĩa rộng hơn so với khái niệm
“văn hóa” trong văn học và lịch sử. Cái nồi nấu
nướng cũ kỉ cũng là một sản phẩm
văn hóa giống như một bản xô-nát của
Beethoven. Trong ngôn ngữ thông thường, một người
có văn hóa là người biết ngoại ngữ, thông thạo
lịch sử, văn chương, triết học hay nghệ
thuật. Ở một vài lĩnh vực, định nghĩa
này c̣n được thu hẹp hơn, chẳng hạn
người có văn hóa có thể là người uyên bác về
James Joyce, Scarlatti, hay Picasso. C̣n những nhà nhân học cho rằng
đă là con người th́ dĩ nhiên có văn hóa. Có một thứ
văn hóa chung, và cũng có những nền văn hóa riêng biệt
chẳng hạn như văn hóa Nga, Mỹ, Anh, Hottentot (ở
Nam Phi), Inca (ở Nam Mỹ). Cái khái niệm văn hóa trừu
tượng và có tính phổ quát này nhắc nhở chúng ta
không được giải thích các hành động chỉ
dựa trên những đặc tính sinh học của những
người liên quan, những kinh nghiệm cá nhân, cũng
như hoàn cảnh tức thời. Kinh nghiệm qúa khứ
dưới dạng văn hóa có mặt trong hấu hết
các hoạt động của đời sống hiện tại.
Mỗi nền văn hóa cụ
thể đưa ra những chỉ dẫn cho mọi hoạt
động sống trong xă hội.
[…]
Chế
độ đa thê là một chế độ mà phụ nữ
Mỹ ghê tởm đến tận xương tủy. Họ
không thể hiểu nổi làm cách nào những người
phụ nữ có “chồng chung“ kia không ghen tuông hay “điên
tiết“ lên khi chồng họ đang ở với một
người phụ nữ khác. Họ cho rằng đó là một
điều “quái đản“. Trong khi đó phụ nữ sống
trong bộ lạc Koryak ở
Cách
đây mấy năm, tôi có gặp một chàng trai trẻ ở
thành phố NewYork, anh ta nửa chữ tiếng Anh cũng
không biết và rơ ràng là rất lạ lẫm với phong
cách của người Mỹ. Anh ta mang ḍng máu Mỹ
như tôi và các bạn, nhưng cha mẹ anh ta là những
nhà truyền giáo đi đó đây từ Ấn Độ
sang Trung Hoa. Vào viện cô nhi từ hồi c̣n nằm ngửa,
anh ta được một gia đ́nh người Hoa nuôi
dưỡng ở một ngôi làng hẻo lánh. Tất cả
những ai gặp đều bảo anh ta giống người
Hoa hơn là người Mỹ, bởi đôi mắt xanh,
mái tóc vàng của anh ta đă không gây được ấn
tượng nhiều bằng cái tướng đi, cách hoa
tay múa chân, lối biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt
và cách suy nghĩ đặc sệt Trung Hoa.
Clyde
Kluckohn, Mirror for man, McGraw-Hill Book Company, 1960, ch.2.
1.1.4.5 Amin Maalouf, Những Đặc Tính Quyết
Định
Bản
sắc cá nhân của mỗi người bao gồm nhiều
đặc điểm không thể nào t́m thấy trên thẻ
căn cước của người đó. Dĩ nhiên, hấu
hết mọi người có một quốc tịch,
đôi khi có hai quốc tịch, thuộc về một truyền
thống văn hóa, một chủng tộc hay một nhóm
ngôn ngữ, thuộc về một gia đ́nh mở rộng
theo những mức độ khác nhau, một ngành nghề,
một cơ quan, hay một tầng lớp xă hội nhất
định… Cái danh sách này dài hơn nhiều, kéo dài gần
như là vô hạn. Chúng ta cảm thấy không ít th́ nhiều
rằng, chúng ta thuộc về một khu vực, một
làng xóm, một khu phố, một thị tộc, một
nhóm người cùng chơi một môn thể thao hay cùng
chung nghề nghiệp, một nhóm bạn bè, một nghiệp
đoàn, một công ty, một đảng phái, một hiệp
hội, một xứ đạo, một nhóm người
có cùng sở thích, cùng thói quen tính dục hay cùng có những
khuyết tật như nhau, hay những ai phải chịu
cùng nghịch cảnh.
Không
phải tất cả những mối liên hệ này đều
quan trọng như nhau, ít ra ở cùng một lúc nào đó.
Nhưng chẳng có cái nào là hoàn toàn vô nghĩa lư cả.
Đây là những yếu tố cốt yếu tạo nên
nhân cách của chúng ta. Chúng có thể được gọi
là “gien của linh hồn”, dù cho đó không phải là những
đặc tính bẩm sinh.
Mỗi
một yếu tố có thể được t́m thấy ở
rất nhiều người khác nhau, tuy nhiên sự kết
hợp của chúng ở trên hai người khác nhau không bao
giờ giống nhau. Chính điều này làm cho chúng ta trở
nên độc đáo và sinh động, và do vậy mà mỗi
người chúng ta là duy nhất và không ai có thể thay thế
được.
Amin Maalouf, Les identités meurtrières, Paris: Grasset, 1998: 19-20
1.2 CHÚNG
TA CÓ THỂ KHÔNG THÍCH MỘT SỐ KHÁC BIỆT
Không phải lúc nào chúng ta cũng thích sự khác biệt
ở người khác. Nhưng điều này chẳng có ǵ
là xấu cả, chúng ta chỉ xấu khi ngăn cản
người khác không được khác ḿnh.
Khi những người từ những
nền văn hoá khác gặp nhau th́ thường nảy sinh
hiểu lầm hoặc ganh ghét. Chúng ta không nên sợ phải công nhận
những điều khác biệt hay nói lư do tại sao không
thích chúng. Những phần
tiếp theo sẽ tŕnh bày những cách chúng ta có thể xử
sự và vượt qua những khác biệt.
1.2.1 KHAI
TRIỂN
1.2.1.1 Sự
cố chấp
Cố chấp là căn bệnh của kẻ yếu
đuối.
Như chúng ta thấy,
có một mối quan hệ rất chặt chẽ giữa
bản sắc cá nhân và cái phần xă hội trong con người
chúng ta. Kết quả là, để cho ư kiến của
chúng ta trở nên có ư nghĩa chúng ta có khuynh hướng nâng
cao giá trị h́nh ảnh của cộng đồng ḿnh và hạ
thấp h́nh ảnh của cộng đồng khác trong cuộc
đua tranh (có thật hay trong tưởng tượng).
Ở một mức
độ nào đó th́ việc chúng ta thiên vị cộng
đồng ḿnh là điều khá b́nh thường. Khi ta lấy
làm tự hào về gia đ́nh ḿnh, lớp học, bạn
bè, hay đội bóng của ḿnh, điều đó chẳng
làm hại đến ai cả, và nói chung cho một nền
văn hoá cũng vậy.
Tuy vậy, khi
người ta khi đă đủ tự tin vào h́nh ảnh
tích cực của cá nhân và cộng đồng ḿnh th́
thường không cần phải hạ thấp qúa đáng
h́nh ảnh của người khác để củng cố
bản sắc của ḿnh. Một người thực sự
"vững vàng" thường không cảm thấy bị
đe doạ v́ sự phong phú, đa dạng. Trái lại người yếu đuối và thiếu
tự tin thường sợ những điều ḿnh không
biết, không hiểu, v́ sự phong phú, đa dạng dễ
làm lung lạc và suy suyển niềm tin và những
điều xác tín của họ.
Trong quá tŕnh t́m kiếm sự bảo vệ từ trong cộng
đồng ḿnh người yếu đuối thường
có thái độ xa lánh những ai khác ḿnh. Đây là lúc sự
cố chấp xuất hiện; thay v́ chỉ thấy rằng
người này trông khác ḿnh, hay cư xử theo một cách
hơi khác lạ mặc dù có thể là rất b́nh thường
trong cộng đồng kia, người cố chấp có
thể sẽ cho rằng người kia kém cỏi, xấu
xí, nhơ nhuốc, bẩn thỉu, ngu dốt. Như vậy,
trong khi một người có thái độ cởi mở
hay thậm chí tôn trọng sự khác biệt sẽ thể
hiện cho người khác thấy rằng họ chỉ
là một trong nhiều nét đa dạng của cuộc sống
th́ những người chối bỏ sự đa dạng
do định kiến (với ư nghĩ rằng tất cả
sự khác biệt đều không đáng quan tâm) lại mang
lại cho ḿnh một cảm giác dễ chịu rằng ta
là người sở hữu chân lư duy nhất.
1.2.1.2 Thành kiến
Cố chấp
c̣n mang đến suy nghĩ rằng tất cả những
ai thuộc về một nền văn hóa nào đó đều
có cùng những khiếm khuyết như nhau.
Lẽ dĩ nhiên là một người
cố chấp sẽ không bao giờ thừa nhận ḿnh là
yếu đuối và sợ sự khác biệt.
Ngược lại anh ta luôn cố tỏ ra tự tin và
cư xử ngạo mạn, hống hách, ḥng che dấu những
những khiếm khuyết của ḿnh. Nói chung là anh ta cố
khai thác tất cả những thành kiến xấu xa về
người khác đă từ lâu sẵn có trong anh ta. Người có thành kiến hay nói
"tất cả những kẻ X là đồ bẩn thỉu/keo
kiệt/phản bội/ăn cắp" hay tương tự
như vậy (có thể chọn một ví dụ khác liên
quan đến văn hóa). Những thành kiến về chủng
tộc luôn là một câu chuyện không có hồi kết thúc.
Dựa vào thành kiến là một dạng
điển h́nh của sự lười nhác tinh thần mà
nhờ thế một số người trong chúng ta tránh phải
đánh giá người khác qua hành động của họ,
qua việc hiểu quan điểm của họ, và qua việc
giao tiếp với họ. Trong đời sống thường
nhật, chúng ta có khuynh hướng phân loại mọi thứ
để đỡ thấy phức tạp trong mọi
chuyện. Chúng ta chia loài người thành từng nhóm khác
nhau. Cách phân chia đơn giản nhất là “chúng ta” (nhóm mà
ta thuộc về) và “họ” (tất cả những ai
khác), tuy vậy nhóm này thường c̣n bị chia nhỏ
hơn. Sau đó chúng ta gán thuộc tính cho mỗi nhóm. Một
số đặc điểm có thể thấy ở hầu
hết mọi người trong nhóm (chẳng hạn,
người Xênegan th́ đến từ Tây Phi và có da màu
đen), trong khi những đặc điểm khác là do khái
quát hoá sai lệch và có khi c̣n chỉ là những bịa đặt
trắng trợn. Chẳng hạn khi nghe ai đó bị mất
hành lư ở nhà ga X th́ có người sẽ nhanh chóng kết
luận rằng tất cả mọi người ở
thành phố X đều là kẻ cắp. Đây là khái quát
hoá sai lệch và thậm chí là một nhầm lẫn (vụ
đó xảy ra như vậy chỉ có nghĩa là có một
kẻ cắp ở thành phố X), bởi v́ có thể tên kẻ
cắp đó đến từ một nơi khác.
1.2.1.3 Sự ngược
đăi
Có nhiều
cách bày tỏ sự ganh ghét những kẻ khác ḿnh, từ lờ
đi cho đến giết hại.
Không ai là chưa từng có ra một loạt
những thành kiến đối với các nhóm sắc tộc
khác. Người Hy Lạp cổ xưa thường gọi
những người nước ngoài là "barbarians" (từ
chữ "bárbaros" nghĩa là "nói lắp") để
chỉ cái cách nói chuyện khó hiểu của những
người đó.
Cách phản ứng tiêu cực đầu
tiên đối với sự đa dạng là coi những ai
khác ḿnh là những người chẳng liên quan ǵ đến
ḿnh. Do đó người ta thường cố gắng
không để ư đến sự có mặt của họ,
chối bỏ bất ḱ sự quen thuộc nào và mong rằng
họ sẽ tránh xa đường ḿnh đi để
ḿnh đỡ bị làm phiền. Trong trường hợp
này thái độ thường thấy là: "Tôi chẳng
chống ǵ họ cả miễn là họ đừng xâm phạm
đến tôi."
Cách thứ hai là lăng mạ bằng
lời nói. Mỗi cộng đồng đều có khuynh
hướng tạo nên một số từ lăng mạ
để gọi tên những kẻ đến từ cộng
đồng khác; chẳng hạn một số người
Anh và người Mỹ gọi người Pháp là “frogs”
(con ếch), người Đức là "krauts" (?),
người Ư là “spaghetti”(ḿ ống), Tây Ban Nha là
"spics" (?), người da đen ở Mỹ là “coons”
(ông mănh), Trung Quốc là "chinks"(?) v.v…. Nh́n bề ngoài
th́ những cái tên đó có vẻ như bông đùa và trong sáng
nhưng chúng lại được phát ngôn bằng một
giọng điệu mỉa mai làm tổn hại đến
ḷng tự trọng của những người nó nhằm
đến. Tương tự như tṛ đùa trong mục 1.2.3.3. để giễu
cợt những khiếm khuyết giả định của
một số dân tộc. Thực ra cười cợt
người khác cũng không phải là điều nghiêm trọng
lắm chừng nào mà người nghe được chuẩn
bị tinh thần. Thực tế th́ những người
hỉ hả đùa cợt kẻ khác (những kẻ khác họ)
lại là những người đầu tiên thấy bị
xúc phạm khi đến lượt họ bị cười
cợt
Ranh giới giữa việc giễu cợt
có ác ư và hăm hại thật vô cùng mong manh. Điều ǵ sẽ
xảy ra nếu chúng ta cứ luôn cố chấp, nói cách
khác là chúng ta cứ luôn ḱ thị những người khác
chúng ta và đối xử với họ như thể họ
là những sinh vật hạ đẳng? Lúc đó chúng ta sẽ
trở nên hống hách và tự cho ḿnh cái quyền áp đặt
người khác. Theo cách này tính cố chấp sẽ dẫn
đến bạo lực, ban đầu th́ rời rạc
nhưng sau th́ có hệ thống, cho đến khi, trong một
số trường hợp xấu nhất, là gây chiến,
và thậm chí cả diệt chủng.
Bạn có thể thử làm một bản
liệt kê về những h́nh thức hăm hại khác nhau, lấy
ví dụ từ lịch sử (nếu sinh viên của bạn
có đủ thông tin) hoặc những sự kiện xảy
ra trong khu vực ḿnh ở hay những vùng kế cận, hoặc
từ sách báo hay truyền h́nh.
1.
Không b́nh đẳng về mặt cơ hội. Các thành viên thuộc
về một nền văn hóa bị phân biệt đối
xử bên ngoài có vẻ như được đối xử
như tất cả mọi người, nhưng thật
ra họ khó có khả năng được cất nhắc
vào các chức vụ trong xă hội. Đôi khi họ bị phân biệt
đối xử v́ không được giáo dục đủ
để có thể làm được một công việc
cụ thể nào đó,
nhưng trong trường hợp này họ bị tước
bỏ cơ hội b́nh đẳng ngay từ trước,
v́ lư do này hay lư do khác, những người này không thể
đến trường như những người khác.
2.
Cách ly.
Người ta bị phân biệt đối xử về mặt lănh thổ. Cái từ
"ghetto" ban đầu có nghĩa là những khu phố
nhỏ mà người Do Thái bị buộc phải sống
ở đó. Nhưng những "khu phố nhỏ"
đó vẫn tồn tại thậm chí ở những thành
phố lớn hiện đại ở những nước
dân chủ. Nơi đó những khu phố nhỏ này về
mặt pháp lư không được gọi tên như vậy
nhưng trên thực tế th́ vẫn tồn tại như
vậy. Đó là những khu vực bị phân biệt v́ lư
do kinh tế, v́ những người trong cộng đồng
bị phân biệt đối xử có ít tiền và chỉ đủ sống
ở những nơi cũ nát và rẻ tiền.
3.
Nạn phân biệt chủng tộc được thể
chế hóa. Thành viên của nhóm thiểu số bị buộc phải
sống ở một số khu vực nhất định
do pháp luật quy định,
họ chỉ được làm một số loại
công việc nhất định, không được đi học, hoặc thậm chí
không được bén mảng đến một số nơi công cộng.
4.
Bắt lưu đày. Thành viên của nhóm thiểu số bị bắt buộc
phải rời bỏ nhà và đi đến những
nơi khác hoặc bị nhốt vào trại tập trung.
5.
Tàn sát.
Trong một cuộc chiến
quy ước hay chiến
tranh du kích ở đô thị, những người thuộc
nhóm bị phân biệt đối xử bị tàn sát bằng
mọi cách với hy vọng có thể khiến họ tuyệt
diệt hay giới hạn khả năng tự trị của
họ.
6.
Diệt chủng. Đây là một h́nh thức tàn sát “giả khoa học”
và có tính toàn cầu. Mục đích cuối cùng là loại bỏ
tất cả thành viên của một dân tộc hay một
nhóm thuộc về một nền văn hóa nhất định,
chẳng hạn như phát-xít Đức với cuộc thảm
sát người Do Thái.
1.2.2 VÍ DỤ
(…)
1.2.3 BÀI TẬP
(…)
1.2.4 TRÍCH DẪN
1.2.4.1. Edward T. Hall, Ngôn ngữ không lời
Người
Mỹ La tinh có xu hướng đứng gần khi nói chuyện,
không như chúng ta ở Mỹ. Thực sự là họ cảm
thấy không thoải mái nếu như không đứng nói
chuyện ở khoảng cách thật gần. V́ thế khi họ
xích gần vào th́ chúng ta lại bước lui. Có thể v́
vậy mà họ cho rằng chúng ta xa cách, lạnh lùng, thiếu
chan ḥa và không được thân thiện. Trái lại, chúng
ta th́ không ngớt “kết tội”họ là cứ phả
hơi thở vô mặt, xấn người vào khi nói chuyện,
hay “văng miểng” tùm lum vào mặt người khác.
Edward T.
Hall, The Silent Language,
1.2.4.2. Claude Lévi-Strauss, Nhiệt đới buồn thiu
Trong các chuyến đi đến
các dân tộc vùng Amazonia từ năm 1935 đến 1939, nhà
nhân học Claude Lévi-Strauss đă thuyết phục được
một thổ dân Anh-điêng cho ông ta được nếm
koro, một loại ấu trùng màu xám nhạt có rất nhiều
trong những thân cây mục. Đây là món ăn mà người
Anh-điêng rất khoái.
“Do
từng bị những người da trắng chế nhạo,
các thổ dân Anh-điêng không bao giờ thừa nhận là họ
thích ăn những sinh vật này. Tuy nhiên, chỉ cần
vào rừng, nh́n thấy các cây pinheiro
cao chừng hai ba chục mét bị băo quật ngă, rồi lại
được chẻ nhỏ, chỉ c̣n trơ lại phần
lơi như chính linh hồn của pinheiro th́ bạn sẽ biết
ngay những người săn t́m koro đă t́m đến đây. Và nếu bất
th́nh ĺnh bước vào nhà của một người
Anh-điêng, bạn có thể thoáng thấy một chén nhung
nhúc cái món cao lương mỹ vị đó trước khi
người ta vội vàng giấu nó đi. Quả thật
là không dễ có được một lần được
chứng kiến thổ dân đi "săn" koro. Chúng tôi th́ đă quyết
âm mưu một phen để chứng kiến cho bằng
được. Một thổ dân Anh-điêng bị bệnh,
người duy nhất bị bỏ lại trong một
ngôi làng hoang, có vẻ như là một "nạn nhân" dễ
chịu nhất. Chúng tôi đặt vào tay anh ta một cái
ŕu, lay và đẩy anh ta đi. Nhưng thật là công toi,
anh ta dường như chẳng hiểu ư chúng tôi. Đến
nước cuối cùng, chúng tôi đành phải thổ lộ
rằng chúng tôi muốn ăn koro.
Rốt cuộc chúng tôi đă thành công kéo được anh
ta đến chỗ mấy thân cây mục. Chỉ cần một
nhát ŕu đă lộ ra hàng ngàn ngăn nhỏ trong hốc cây.
Trong mỗi ngăn là một sinh vật béo nhẫy, vàng ruộm
như con tằm.Tôi đă phải giữ mồm để
ḿnh không phải thốt lên. Trong lúc mấy người Anh-
điêng miệt mài t́m, tôi đă không chịu nổi khi phải
đứng nh́n; từ trong thân nó ứa ra một chất
béo ngậy trắng như sữa mà tôi đă đê mê
thưởng thức sau chút do dự. Nó dẻo như
bơ và có vị như nước dừa”.
Claude Lévi-Strauss, Tristes Tropiques, Paris: Plon,1955
Sự
khác biệt biến thế gian này thành một nơi thú vị
để sống.
Thông thường, điều khiến
ta cảm thấy cuốn hút ở người khác chính là
thứ đă làm cho người đó khác với ta. Thử
nghĩ coi, thật là chán nếu ai cũng có khuôn mặt giống
nhau, ăn nói như nhau và xử sự theo cùng một lối.
Hay cứ tưởng tượng cái cảnh ḿnh vào một
viện bảo tàng, ở đó có hàng ngàn bản sao của
cùng một tấm h́nh: khi nh́n đến tấm thứ hai
ta chẳng c̣n chút hứng thú nào nữa để mà xem tiếp
các tấm h́nh c̣n lại nữa.
1.3.1 KHAI TRIỂN…
1.3.1.1 Lợi
ích của sự khác biệt (1)
Nếu
không có sự khác biệt, có lẽ chúng ta cũng không thể
nào biết được ḿnh là ai nữa. Khi đó, chẳng
thể nào c̣n có thể bảo rằng tôi thế này tôi thế
kia khi mà không có một ai khác với ḿnh để mà so sánh.
Nếu cả nhân loại ai cũng
đều cao 1,6 mét th́ chúng ta chẳng cần chú ư đến
vóc dáng của ai. Nếu tóc ai cũng đỏ th́ chẳng
c̣n ai để ư đến màu tóc làm ǵ. Nếu ăn hoài một
loại thức ăn như nhau th́ việc bếp núc chẳng
c̣n quan trọng. Nếu mặc một thứ như nhau th́
y phục chẳng khiến ai quan tâm. Nếu đều nghĩ
y chang nhau về mọi sự th́ chúng ta chả cần phải
chia sẻ với nhau làm chi. Và cứ thế, nó loại trừ
hết mọi khả năng giúp ta tạo nên bản sắc
cho ḿnh. Do vậy mà ta sẽ hiểu chính ḿnh hơn khi quan
sát sự khác biệt giữa ta và người khác.
Xem trích dẫn:
Tzvetan Todorov [mục 1.3.4.1]
1.3.1.2 Lợi
ích của sự khác biệt (2)
Lưu ư
đến sự khác biệt cũng giúp ta tự hoàn thiện
ḿnh. Bắt chước người khác là một trong những
động cơ chính yếu thúc đẩy người ta
học hỏi.
Người ta có thể có những giải
pháp khác nhau đối với một vấn đề. Việc
so sánh ḿnh với một ai đó có giải pháp khác ḿnh có thể
vô cùng hữu ích, nó giúp ta thấy được khả
năng hạn chế của ta, nó cho phép ta bắt chước
cách làm kia nếu nó tỏ ra phù hợp hơn cách làm của
ta, và nó giúp ta so sánh các sách lược khác nhau để tạo
nên một giải pháp phức tạp và hiệu quả
hơn. Hai cá nhân, hay nói rộng hơn, hai nền văn hóa
thu được rất nhiều lợi lộc và sự
tiến bộ khi nó gặp nhau và tự đối chiếu
với nhau.
1.3.2 VÍ DỤ
(…)
1.3.3 BÀI TẬP
(…)
1.3.4 TRÍCH
DẪN
1.3.4.1
Tzveton Todorov, Sống chung
Chúng ta không thể phán xét chính ḿnh khi
chưa bước ra khỏi ḿnh và nh́n sự việc với
đôi mắt của kẻ khác. Nếu như lớn lên
trong biệt lập th́ con người ta đă không thể
nào phán xét được điều ǵ, ngay cả phán xét
chính họ, v́ lúc đó chẳng có tấm gương nào
để cho người ta soi thấy ḿnh trong đó.
Tzvetan Todorov, La vie commune. Essai d'anthropologie générale, Paris:
Seuil, 19
1.4 CHẤP
NHẬN SỰ KHÁC BIỆT LÀ CÁCH TIỆN LỢI CHO MỌI
NGƯỜI
Cách duy nhất
để sống hoà b́nh với nhau là học cách chấp
nhận sự khác biệt.
Một khi đă thừa nhận rằng
sự khác biệt tồn tại trên thế gian này, và mặc
dù có một số khác biệt làm ta thích và số khác làm ta
không thích, chúng ta cần hiểu rằng cuộc sống bắt
ta phải khoan dung ngay cả đối với những thứ
mà ḿnh không thích và điều này là v́ lợi ích của chính
ta.
Để sống trong hoà b́nh
tương đối, các nhóm người trong cùng một
lănh thổ có thể t́m ra một hệ thống chung các quy
tắc và những điều ngăn cấm để bảo
đảm rằng cái ngưỡng có thể gây nên bạo
lực sẽ không bị vượt qua. Nói cách khác, thái
độ bất khoan dung của từng cá nhân được
kiểm soát một cách tức th́. Quy tắc đầu tiên
là về sự b́nh đẳng giữa những con người
với nhau. Điều này không có nghĩa phủ nhận mỗi
con người đều có những đặc tính riêng biệt
làm cho người này khác người kia, nó chỉ xác quyết
rằng mọi người đều có những quyền
như nhau.
1.4.1 KHAI
TRIỂN…
1.4.1.1 Sự
b́nh đẳng
B́nh đẳng
có nghĩa là ai cũng có quyền được khác với
tất cả những người khác.
Chẳng phải là không đúng khi bảo
sự đa dạng mang đến điều tốt
đẹp, miễn là các nhóm chủng tộc và tôn giáo cứ
sống trên lănh thổ của họ và không làm phiền
đến nhau. Con người luôn di chuyển từ
nơi này đến nơi khác, thường là để
t́m kiếm một cuộc sống tốt hơn. Di cư
là chuyện không ai ngăn chặn được. Và ngay cả
nếu ngăn chặn được đi nữa th́ chúng
ta có lẽ cũng phải chấp nhận mọi sự
như nó vẫn là thế và cố gắng sống hoà b́nh với
các nhóm người khác trên tinh thần tôn trọng sự
khác biệt của nhau.
Tôn trọng sự khác biệt có nghĩa
là thừa nhận rằng tất cả mọi người
đều b́nh đẳng. Tất cả chúng ta đều
b́nh đẳng bởi v́, vượt lên những khác biệt
bên ngoài như ta đă thấy, mỗi chúng ta đều cần
những thứ như nhau để sống: không chỉ
thức ăn, nước uống, ngôi nhà để trú ngụ,
gia đ́nh để bảo vệ chúng ta, áo quần để
che đậy thân thể, chăm sóc y tế để giúp
chúng ta hồi phục trong lúc ốm đau, mà c̣n sự tự
do, tự do diễn đạt ư kiến, tự do vui
chơi, tự do hấp thụ một nền giáo dục,
tự do chạy nhảy, yêu đương v.v…
Tuyên Ngôn
Độc Lập của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ [xem 1.4.4.1] ra đời trên những quyên tắc
như thế, và cũng đă được Umberto Eco thảo
luận trong phần TRÍCH DẪN của mục này [xem 1.4.4.6]
Một khi đă chấp nhận nguyên
tắc b́nh đẳng, ta thấy rằng, về mặt
sinh học, chúng ta rất giống nhau. Phần lớn những
sự khác biệt chẳng hạn giữa một thổ
dân Úc châu và một người Thụy Điển, liên quan
đến h́nh dáng bên ngoài [xem
1.4.2.1] (và tất nhiên cả bản sắc văn hóa), trong
khi các cơ quan bên trong cơ thể th́ y chang nhau. Kết quả
là con người phải giải quyết những vấn
đề cơ bản giống nhau. Và cứ thế mỗi
nhóm người t́m ra những câu trả lời khác nhau cho
những nhu cầu giống nhau này.
1.4.1.2 Quyền
và nghĩa vụ
Chúng ta
không chỉ có quyền mà c̣n có nghĩa vụ.
Mỗi người (dù là đàn ông,
đàn bà, hay trẻ con) đều có quyền ăn, ngủ,
bài tiết, tự do đi lại, yêu đương, diễn
đạt tư tưởng, có những mối quan tâm và cũng
như những sở thích riêng, miễn là nó không cản trở
người khác làm như vậy.
Tuy nhiên, để bảo đảm
các quyền căn bản cho tất cả mọi người,
chúng ta phải từ bỏ một phần tự do cá nhân.
Nếu thích hát to th́ cứ hát v́ chúng ta được tự
do làm vậy. Tuy nhiên, khi có những người khác đang
ngủ, cầu nguyện hay đọc sách th́ chúng ta phải
từ bỏ cái quyền tự do ca hát này để khỏi
xâm phạm đến quyền tự do của kẻ khác.
Khi khác sẽ đến lượt họ hy sinh một cái
ǵ đó cho chúng ta. V́ thế, nếu được mời
đến nhà ai, chúng ta cố gắng tuân theo các nguyên tắc
bắt buộc ở đó (miễn là nó không đi ngược
lại những nguyên tắc của chúng ta), trong khi đó,
về phần ḿnh, chủ nhà nên giúp chúng ta cảm thấy
thoải mái bằng cách giải thích phong tục ở
nơi đây và cho phép chúng ta giữ những nguyên tắc của
ḿnh (chẳng hạn, một chủ nhà theo đạo Thiên
Chúa không thể bắt vị khách theo đạo Hồi
ăn thịt heo). Không phải lúc nào cũng dễ t́m thấy
một sự cân bằng để mọi người có
thể giữ nguyên thói quen của ḿnh mà không đụng chạm
đến thói quen của người khác. Đôi khi cần
phải thảo luận rất lâu trước khi đi
đến một thỏa thuận, và những ai liên quan
nên sẵn sàng nhượng bộ một ít.
Đọc thêm bài viết của Furio
Colombo trong chủ đề này [xem
1.4.4.5]
1.4.1.3
Chúng ta nên làm ǵ?
Nên cố
gắng hiểu tại sao người khác hành động
khác ta.
Khi gặp một sự khác lạ làm
ta bối rối, ta nên nghĩ rằng có lẽ phản ứng
tiêu cực mà ta có đơn giản là do ḿnh không hiểu
người ta. Nếu có thể, chúng ta thử đặt
câu hỏi với người kia để t́m hiểu xem tại
sao người ta làm như vậy, hoặc ta cũng có thể
t́m trong sách vở hay kiếm một ai đó có thể giải
thích cho ta hiểu. Chúng ta bắt đầu bằng giả
định rằng thường th́ không ai cố ư xử sự
tệ cả, và biết đâu người kia cũng thấy
hành động của ta là kỳ dị. Mỗi người
là một kẻ xa lạ đối với người
khác. Bằng cách cố gắng hiểu quan điểm của
người khác, có thể chúng ta sẽ nhận ra rằng
hoàn cảnh của họ cũng chẳng khác hoàn cảnh của
chính ta, hay ít ra cũng thấy rằng chúng ta có nhiều
điểm giống nhau hơn là chúng ta tưởng.
Tôn trọng người khác không có nghĩa
là từ bỏ những điều ḿnh cho là đúng: chẳng
có ǵ sai trái cả khi cảm thấy tự hào về cái nhóm
người mà ḿnh thuộc về. Khi có được
đối thoại thực sự, chúng ta có thể giải
thích những sở thích và quan điểm của ḿnh cho
người khác hiểu. Nhưng chúng ta không có quyền
ngăn cấm họ cảm nhận sự việc và theo
đó hành động theo cái cách hơi khác so với chúng ta.
Cũng thế, điều quan trọng là không có bất cứ
nhóm nào đe dọa một nhóm khác bằng cách áp đặt
sở thích và những điều xác quyết của ḿnh
lên nhóm đó.
Khoan dung [xem 1.4.4.3] có nghĩa là thừa nhận giá trị của
những ư kiến của người khác, ngay cả khi
chúng ta không có cùng quan điểm. “Tôi không đồng ư với
những ǵ bạn nói (hay làm), nhưng bạn có quyền nói
(hay làm) điều đó”.
1.4.2 VÍ DỤ
(…)
1.4.3 BÀI TẬP
(…)
1.4.4 TRÍCH
DẪN
1.4.4.1 Tuyên Ngôn Độc Lập của
Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1776)[5]
Chúng tôi khẳng định một
chân lư hiển nhiên rằng, mọi người sinh ra đều
b́nh đẳng, rằng tạo hóa đă ban cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong
đó có quyền sống, quyền được tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc; Rằng, để
đảm bảo cho những quyền này, các chính phủ
được lập ra trong dân và có được những
quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất
trí của nhân dân; Rằng, bất cứ khi nào một thể
chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu
này, th́ nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ
chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới,
đặt trên nền tảng những nguyên tắc đă
nói ở trên, cũng như tổ chức thực thi quyền
hành theo một thể chế sao cho có lợi nhất cho an
ninh và hạnh phúc của họ.
American
Declaration of
1.4.4.2 John Locke, Một Tiểu Luận Về Sự Hiểu Biết
Của Con Người
Chúng
ta nên xót thương cho sự ngu muội của chúng ta và cố
gắng diệt trừ nó một cách nhẹ nhàng, thoả
đáng. Đừng có lúc nào cũng cư xử tệ hại
với người khác như một kẻ bướng bỉnh
ngốc nghếch bởi v́ họ sẽ không từ bỏ
và chịu nghe lời ta. C̣n nếu ta cứ cố áp đặt
họ th́ ta cũng ngang bướng chẳng kém chi họ.
Đâu là người có được bằng chứng
không thể chối căi về chân lư của mọi sự, về
sai lầm của người mà ḿnh kết án; hay, đâu là
người đă thấu hiểu tường tận suy
nghĩ của chính ḿnh hay của người khác?
John Locke, An
Essay Concerning Human Understanding, 1689. Chapter XVI, 4
1.4.4.3
Voltaire, “Khoan dung”
Khoan dung là ǵ? Nó là ân huệ của con
người. Tất cả chúng ta đều được
tạo nên bởi những yếu đuối và sai lầm.
Chúng ta hăy tha thứ cho nhau những điều ngốc nghếch.
Đó là quy luật đầu tiên của tự nhiên…
… chúng ta hăy độ lượng với
nhau, bởi v́ tất cả chúng ta đều yếu đuối,
thiếu nhất quán, không bền ḷng và dễ lầm lạc.
Không lẽ một cây sậy bị gió thổi rạp ḿnh
trong bùn lại bảo với cây sậy kế bên đang rạp
ḿnh ngược hướng: Này tên khốn nạn kia, rạp
về phía tao, không thôi tao bảo người ta nhổ bật
gốc hay đốt cháy mi bây giờ?
Voltaire, "Tolérance", Dictionnaire philosophique, 1764.
1.4.4.4 Con voi
(…) [xem
chuyện thầy bói mù sờ voi]
1.4.4.5
Furio Comlombo, Những yêu cầu
tối thiểu để chung sống.
Những thảm trạng và đổ vỡ xảy
ra khi người ta ḱ vọng viễn vông hay đ̣i hỏi
qúa nhiều ở người khác.
Chúng ta đang hướng đến một xă hội
mà ở đó con người cần có một bản sắc
cá nhân mạnh mẽ,có quyền tự xác định ḿnh,
và sự cần thiết phải cải tổ về mặt
xă hội các nhóm dựa trên niềm tin và văn hóa.
Huyền thoại và hy vọng về một sự hợp
nhất dường như biến thành một số các tiểu
xă hội như nhau và độc lập với nhau
được nối kết bằng một điều
luật cơ bản bảo đảm sự cân bằng
trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Quy tắc nền tảng
về sự b́nh đẳng chính là thể hiện mức
độ cao nhất của sự tôn trọng lẫn nhau.
Người ta khả dĩ tôn trọng nhau và điều
này sẽ được bảo đảm nếu biết
thừa nhận những cái riêng của người khác và
biết hạ thấp mức độ ḱ vọng của
ḿnh về các hành vi của họ. Cần phải thiết
lập một chuẩn mực tối thiểu và ổn
định về các giá trị và hành vi thực tiễn.
Chuẩn mực đó phải đủ cao để bảo
vệ mọi người và cũng phải đủ thấp
để ai cũng chấp nhận và được hầu
hết mọi người tuân thủ nó một cách chặt
chẽ trong thực tế.
Đă qua rồi cái thời
của những giấc mơ về t́nh thân ái đại
đồng. Theo đuổi nó chỉ như đi vào
đường cùng, có khi c̣n làm nảy sinh xung đột.
Chính việc giới hạn các quy tắc và hạ thấp
chuẩn mực của các hành vi thông thường là khởi
đầu của đề án có tính hiện thực nhằm
đẩy lùi bạo lực, ḱ thị, xúc phạm hay cô lập
con người.
Mặc dù những chuẩn mực mới
phát sinh từ mong muốn tốt đẹp là bảo vệ
con người, đặc biệt là kẻ yếu,
nhưng những chuẩn mực đó phải khơi gợi
ở con người khả năng tự vệ và đấu
tranh cho bản thân. Cần phải thấy rằng việc
tuân thủ những quy tắc tối thiểu để
tôn trọng lẫn nhau làm cho con người ta lương
thiện hơn, cuộc sống ít nguy hiểm chết chóc
hơn, và không phải trả một cái giá qúa đắt
như khi không chấp hành nó.
Đây là một phương thức
hữu hiệu giúp tránh được việc phải vận
dụng đến các giá trị tôn giáo trong việc loại
bỏ sự nguy hiểm của cái gọi là “luật lệ
tự nhiên”. Tôn giáo nào cũng quan tâm đến những “luật
lệ tự nhiên”, diễn giải và chấp nhận nó
theo cách của riêng ḿnh; và do đó mà t́nh h́nh lại càng khó
khăn thêm v́ những chướng ngại vô h́nh.
Tại sao chúng ta phải
chấp nhận một cách tiếp cận tối thiểu
khi thiết lập những nguyên tắc cho các hành vi thông
thường và cho sự tôn trọng lẫn nhau? Một lư
do hiển nhiên là chúng ta cần quy định những
nguyên tắc này ở một mức độ khác với các
chuẩn mực tôn giáo, và thực tế là thấp hơn
tôn giáo để tránh hiểu lầm. Ảo tưởng về
một “chủng tộc siêu việt” đă từng là một
bi kịch của nhân loại. Việc thuyết phục ngấm
ngầm và thường xuyên rằng tôn giáo này là đúng
đắn và như thế, ưu việt hơn tôn giáo kia,
xét cho cùng cũng chẳng ít bi thảm hơn. Nỗi lo sợ
về sự đa dạng là một căn bệnh cần
được nh́n nhận và chẩn trị trước
khi nó gây hại.
Các hành vi xă hội đều có nguyên
nhân của nó. Nạn phân biệt chủng tộc, ḱ thị,
cô lập và áp bức là sản phẩm của văn hóa. Và
chỉ có văn hóa mới có thể thiết lập
được một sự ḥa hợp giữa các nhóm khác
nhau. Như thế, có lẽ nó cũng sẽ tạo lập
được một trạng thái ḥa b́nh và khoan dung.
Những yêu cầu tối thiểu
để chung sống:
1. Bất ḱ nhóm nào cũng đều
có quyền tự xác định ḿnh, quyền được
công nhận, được gọi tên và nhắc đến
theo cách ḿnh muốn.
2. Mỗi nhóm đều phải đề
cập đến các nhóm khác theo những đặc tính
riêng của các nhóm đó. Phải đảm bảo các quy tắc
của ḿnh không xâm phạm đến các quy tắc thuộc
về nhóm kia bất cứ ở đâu, khi nào.
3. Tránh xâm lấn và gây mâu thuẫn phạm
vi chủ quyền và những hoạt động đặc
thù của nhau bằng sự công nhận lẫn nhau và bằng
các thỏa thuận trực tiếp.
4. Việc tuyên bố và khẳng định
các nguyên tắc của ḿnh phải được thực
hiện sao cho chúng không mang ư nghĩa công kích hay làm xúc phạm
đến các nguyên tắc của nhóm khác.
5. Cần phải có sự phân biệt
rơ ràng giữa việc bày tỏ ư kiến và việc thể
hiện hành động trong mỗi nhóm để không hạn
chế mọi người tự do phát biểu đồng
thời ngăn chặn những hành vi bạo lực.
6. Mẫu hành vi của những
người hút và không hút thuốc lá (“smoking-no smoking” model of
behavior) [6] có thể
được xem như là h́nh mẫu cho các hành vi khác: phải
dành không gian và thời gian cho các luồng ư kiến khác nhau,
và ngay cả các hành động khác nhau nếu nó không gây hại.
7. Mỗi nhóm phải biết chấp
nhận một số trách nhiệm chung, phải biết
chia sẻ gánh nặng và nhiệm vụ được quy
định trong nhóm và thoả thuận với nhóm khác nhằm
đạt đến một mức độ công bằng
nhất định.
8. Không có tôn giáo nào được xem
là ưu việt hay đúng đắn hơn tôn giáo khác. Tất
cả phải được nh́n nhận và tôn trọng
dưới bất cứ h́nh thức nào.
9. Phải thiết lập một phạm
vi ngoại lệ có tính tuyệt đối được
tất cả các nhóm xem xét và chấp nhận. Sự toàn vẹn
về mặt tinh thần và thể xác, tôn trọng trẻ
em, kẻ yếu và người khuyết tật là những
điều cốt yếu.
10. Phải thiết lập các nhóm ḥa
giải. Họ phải là những người đáng tin cậy
và được mọi phía chấp nhận, và phải có
khả năng hóa giải mọi hiểu lầm và ngăn
chặn được các cuộc xung đột.
11. Các nhóm phân chia theo giới tính và
khuynh hướng tính dục phải được hưởng
một sự công nhận trọn vẹn và không bị phán
xét dựa trên giới tính và khuynh hướng tính dục.
12. Phải thiết lập một hệ
thống báo động sớm, có lẽ bằng cách cho phép
các nhóm ḥa giải có khả năng thấy được
mọi chuyện, có được sự tin cậy, và
trách nhiệm được mọi người công nhận.
LƯU Ư:
Các “nguyên tắc” trên đuợc viết
ra dựa trên giả định rằng hấu hết các
hoạt động xă hội của các nhóm khác nhau xảy ra trong môi trường thực
tế trong đó luật pháp quy định rất lỏng
lẻo.
Hiển nhiên là mỗi
nhóm sẽ giữ thái độ ủng hộ luật pháp
để bảo vệ và cải thiện ḿnh. Các nhà làm luật sẽ nổ lực để
tiên liệu mọi nhu cầu và đưa ra những điều
kiện tốt hơn để cùng nhau hợp tác.
Tuy nhiên, phần
đời sống xă hội tồn tại ngoài luật
pháp và bất tuân luật phát không những lớn đáng kể
mà c̣n luôn phát triển. Mỗi nhóm nên góp phần thực hiện
và hỗ trợ đúng mực luật pháp hiện hành hoặc
giúp thay đổi những điều luật bất hợp
lư. Tuy vậy, việc đẩy mạnh bổn phận trực
tiếp có thể cải thiện các cơ hội có
được những hành vi khoan dung và sự tôn trọng
lẫn nhau ở một mức độ cao hơn.
Đằng sau những
điều lưu ư này tiềm ẩn tương lai của
một tập thể hoà b́nh trong sự đa dạng, tự
điều chỉnh và tự kiểm soát trong khuôn khổ
luật pháp quy chiếu (Hiến Pháp, các điều khoản
riêng biệt của luật pháp v.v…).
Trong viễn cảnh
đó mọi người có lẽ sẽ bớt hành động
tự phát và xâm hại đến quyền lợi của
nhau hơn. Người ta sẽ tự nguyện chấp nhận
những hành vi không mấy dễ chịu của nhau, đó
chính là hoà b́nh được hiểu theo nghĩa v́ lợi
ích chung.
Các nhóm nên thừa nhận một thực
tế rằng bất cứ xung đột nào dù nhỏ bé
và mang tính địa phương đến đâu cũng
cực kỳ nguy hiểm và dễ gây ra bạo động
trên diện rộng. Từ đó nên sớm nhận ra rằng
trong trường hợp xảy ra đổ vỡ và xung
đột mà dẫn đến chiến tranh, sẽ chẳng
có ai là vị cứu tinh và cũng chẳng có ai là người
giải phóng.
Chúng ta đang bước vào kỷ
nguyện “tự phục vụ”. Bởi thế chúng ta cần
có những hướng dẫn cần thiết cho biết
chúng ta cần phải làm ǵ để sinh tồn.
Furio Colombo:
Minimum requirements for living together.
1.4.4.6 Umberto Eco, Khi kẻ khác có mặt.
Chúng
ta là những sinh vật đứng thẳng, v́ thế rất
chi là mệt khi ở tư thế lộn ngược qúa
lâu. Kết quả là chúng ta có một ư niệm chung về
hướng lên và hướng xuống, và thích đứng
thẳng hơn là thích lộn ngược. Cũng vậy
chúng ta có những ư niệm về trái hay phải, đi hay
dừng, đứng lên hay nằm xuống, ḅ hay nhảy,
ngủ hay thức. Chúng ta đều rơ cảm giác như thế
nào khi đánh vào vật cứng, đâm xuyên qua vật mềm
hay chất lỏng, khi ṿ, khi gơ, khi đấm, khi đá, và
cả khi nhảy đầm. Danh sách này khá dài và có thể
bao gồm cả sự nghe, thấy, ăn hay uống, nuốt
hay nhổ. Và chắc chắn mỗi người đều
có những ư niệm cho biết cảm giác nó như thế
nào khi thu nhận, nhớ lại, cảm thấy ham muốn,
sợ hăi, buồn phiền hay khây khỏa, vui sướng
hay đớn đau và thế nào khi phát ra âm thanh diễn tả
những cảm xúc này. V́ thế (và v́ chúng ta đang nói về
các quyền), có những quan niệm phổ quát về sự
hạn chế: chúng ta không muốn ai đó ngăn không cho
chúng ta nói, nh́n, nghe, ngủ, nuốt hay nhổ, hay đi
đến nơi đâu chúng ta muốn. Chúng ta đau đớn
khi có ai đó trói buộc hay cô lập chúng ta bằng vũ
lực, đánh đập, làm bị thương hay giết
chúng ta, hành hạ chúng ta về mặt thể xác hay tinh thần
làm suy giảm hay triệt tiêu khả năng suy nghĩ của
chúng ta.
[…]
Chúng
ta trước hết phải tôn trọng các quyền của
người khác, trong đó bao gồm quyền được
nói và suy nghĩ. Giá mà những đồng loại của
chúng ta tôn trọng những “quyền của thân thể” này
th́ đă không có cuộc thảm sát những người vô
tội, không có vụ “đêm Thánh Bartholomew” [7],
không có giàn thiêu dành cho kẻ dị giáo, không có các trại tập
trung, không có cơ quan kiểm duyệt, không có trẻ em
trong các hầm mỏ và không có các vụ hăm hiếp ở
Bosnia.
«Quando
entra in scena l’altro» in A che cosa
crede chi non crede?,
Bài viết
(tham khảo) bằng tiếng Việt
(Chúng tôi không chịu trách nhiệm
nội dung các trang bên ngoài)
1. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (LHQ):
http://www.unhchr.ch/udhr/lang/vie.htm
2. Vai tṛ của sự khoan dung
(Khải Thiện): http://www.thuvienhoasen.org/khoandung.htm
3. Tuyên bố ASEM về đối thoại giữa
các nền văn minh (Hà Nội, 10/2004; tin của Bộ Ngoại
Giao Việt
Một số trang web bằng tiếng Anh
(Chúng tôi
không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài)
1. Fight Hate and Promote Tolerance: http://www.tolerance.org/
2.
International Tolerance Network: http://www.tolerance-net.org/
3.
Tolerance Programme (UNESCO): http://www.unesco.org/tolerance/
Dẫn nhập
Nội dung của chương này đề
cập đến một vấn đề đặc biệt
"gai góc" và phần nào cần ở độc giả
sự trưởng thành nhất định. V́ lư do này nên
các tác giả quyết định viết chương này
chỉ cho những trẻ từ 10-12 tuổi trở lên,
các em này sẽ t́m hiểu vấn đề với sự
trợ giúp của giáo viên.
Có ba ư
tưởng cơ bản:
1. Có nhiều tôn giáo
khác nhau trên thế giới.
2. Một số ư kiến
cho rằng con người về bản chất là những
động vật tôn giáo.
3. Có nhiều thái
độ khả dĩ khác nhau về những tôn giáo khác với
tôn giáo mà ḿnh đang theo.
Phần đầu tiên (nhấn mạnh
đến sự đa dạng của những truyền thống
tôn giáo) đề cập đến những khía cạnh cụ
thể của những trải nghiệm tôn giáo (tức là
những hoạt động tôn giáo). Đây là những vấn
đề mà trẻ có thể tiếp cận khá dễ dàng.
Trước hết chúng ta cung cấp một số khái niệm
cơ bản về từng tôn giáo chính trên thế giới
(trong khi quư độc giả vui ḷng gởi cho chúng tôi những
tŕnh bày ngắn gọn về những tôn giáo mà chúng tôi hiện
chưa có trong danh sách) những mong có thể xoá bỏ một
số thành kiến đă ăn sâu trong suy nghĩ của mọi
người, và đồng thời giới thiệu cho những
độc giả nào quan tâm t́m hiểu thêm về các truyền
thống tôn giáo những địa chỉ đặc biệt
dành cho họ. Chúng tôi cũng sẽ tŕnh bày những quan
điểm của những người vô thần và những
người theo thuyết bất khả tri. Tiếp đến
chúng tôi sẽ cố gắng khơi gợi ở mọi
người một sự hiểu biết hài hoà về các truyền thống tôn
giáo bằng cách so sánh đối chiếu những lễ
nghi tôn giáo khác nhau. Chẳng hạn ở phần giới
thiệu những lễ nghi tôn giáo đánh dấu những
giai đoạn quan trọng trong cuộc đời con
người, chúng tôi sẽ so sánh cách mà những người
theo Ấn Độ giáo, những người theo Do Thái
giáo, những người theo Ki Tô giáo tổ chức cưới
hỏi, ma chay, và những lễ nghi khác như thế nào.
Trong phần hai của chương này
(đề cập đến những câu trả lời mà
mỗi tôn giáo đưa ra cho những câu hỏi chung của
nhân loại) chúng tôi sẽ cố gắng làm rơ cái lối
làm thế nào mà những tôn giáo khác nhau đó có thể t́m ra
được những giải pháp cụ thể khi phải
đương đầu với cùng những vấn đề
đang tồn tại. Hiển nhiên là chúng tôi sẽ không thể
phân tích chuyên sâu những quan điểm của từng học
thuyết tôn giáo về vấn đề nguồn gốc vũ
trụ, sinh tử, khổ hạnh, thiện ác. Do đó
chúng tôi chỉ giới hạn trong những ví dụ nêu ra,
và, một lần nữa, chúng tôi cần đến quư
độc giả góp ư bổ sung.
Khác với hai phần đầu với
nội dung miêu tả các tôn giáo khác nhau, trong phần ba (bàn về
những thái độ khả dĩ khác nhau về những
tôn giáo tôn giáo khác với tôn giáo mà ḿnh đang theo) chúng tôi cũng
sẽ nói đến các xung đột, ngược đăi,
chiến tranh, tàn sát dưới danh nghĩa tôn giáo. Sau
đó chúng tôi sẽ hỏi các em xem liệu chúng có cảm
nhận được sự mâu thuẫn giữa các nguyên
tắc trừu tượng của một tôn giáo cụ thể
và những hành vi thực tế như vậy hay không. Mục
đích là để khuyến khích các nhóm học sinh thảo
luận nhằm nêu ra được những giải pháp
khả dĩ cho một sự tồn tại hoà b́nh giữa
các đức tin tôn giáo khác nhau.
Giống như chương trước
của cuốn cẩm nang, mỗi phần trong
chương này cũng được chia ra năm mục
nhỏ: Ư tưởng cơ bản,
Khai triển, Ví dụ, Bài tập, và Trích dẫn.
Vui ḷng đọc phần Giới
thiệu của Umberto Eco
để hiểu thêm về mục đích của những
phần này.
Umberto Eco
Để
bắt đầu thảo luận cái chủ đề khó
khăn này về tôn giáo, người dạy trước
tiên nên hỏi các em xem gia đ́nh của chúng hay hàng xóm có
tham dự vào những nghi lễ tôn giáo đang được
thực hành ở quốc gia của chúng hay không. Sau đó hỏi
xem chúng có biết người nào thực hành những nghi lễ
của một tôn giáo khác (hoặc hỏi xem chúng đă
đọc ở đâu đó hay nh́n thấy trên phim ảnh,
truyền h́nh những người tin theo những tôn giáo
khác- cả những tôn giáo cổ xưa mà ngày nay không c̣n tồn
tại, chẳng hạn như tôn giáo của những
người La Mă hay người Hy Lạp cổ đại).
Dựa trên quan sát cho thấy có nhiều tôn giáo khác nhau tồn
tại, người dạy có thể nêu lên câu hỏi: “tôn
giáo là ǵ?”.
Cảm
xúc tôn giáo
Người
ta nói rằng con người là động vật tôn giáo.
Chúng ta không biết con mèo, con chó hay con chim nghĩ ǵ trong
đầu, nhưng từ tất cả những ǵ mà chúng
ta có thể quan sát thấy, động vật không có bất
cứ tôn giáo nào (mặc dù một số người từng
cho rằng con chó sủa trăng là v́ nó nhận ra sự tồn
tại của một “cái ǵ đó” không thuộc về thế
giới của nó). Ngược lại, tất cả những
người mà ta biết đều cho thấy rằng họ
có cảm xúc tôn giáo.
Như
chúng ta sẽ thấy trong các phần sau, có những tôn giáo
tin vào một vị thần duy nhất (các tôn giáo độc thần), và có những tôn giáo tin
vào rất nhiều những thực thể tôn giáo khác nhau,
chẳng hạn như các vị thần cổ xưa, hay
linh hồn của nước của cây v.v… (các tôn giáo đa thần); có những
tôn giáo có nhà thờ hay thánh đường, c̣n những tôn
giáo khác th́ bày tỏ ḷng tôn kính đối với các vị
thần của họ ở giữa môi trường thiên
nhiên; có những tôn giáo sử dụng tranh, tượng làm
h́nh ảnh đại diện cho vị thần của họ,
những tôn giáo khác tôn kính họ qua một cục đá, một
số khác th́ dường như chẳng có vật nào để
chiêm bái, thờ phượng. Nhưng, trước khi quyết
định xem thực sự tôn giáo là ǵ, chúng ta phải thiết
lập bản chất của cảm xúc tôn giáo, một thứ
dường như hiện hữu trong tất cả các cộng
đồng nhân loại, trong qúa khứ cũng như trong
hiện tại.
“Tại
sao?”
Trẻ
em đặt rất nhiều câu hỏi “tại sao” với
cha mẹ chúng từ khi c̣n rất nhỏ. Tại sao mặt
trời cho ánh sáng? Tại sao nước làm ướt
đồ vật? v.v. và v.v… Cảm xúc tôn giáo có mặt khi
con người hỏi chính ḿnh v́ đâu họ có mặt,
hay v́ đâu mà có vũ trụ (thế giới, bầu trời,
mặt trời, mặt trăng, các v́ sao) và nó được
sinh ra như thế nào.
Những
“tại sao” này trước hết đề cập đến
qúa khứ, hiện tại, và tương lai. Nh́n về quá
khứ, con người tự hỏi: phải chăng vũ
trụ được ai đó tạo nên? Nghĩ đến
hiện tại, họ tự hỏi ḿnh rằng họ phải
sống và xử sự thế nào cho đúng với bản
chất của họ, và muốn biết Tạo Hóa có giúp
đỡ, bảo vệ, phán xét, ban thưởng hay trừng
phạt họ không thông qua những “kẻ giúp việc” của
Ngài, chẳng hạn như quỷ thần hay các lực
lượng tự nhiên khác. Và v́ tất cả mọi
người đều nhận thấy có những điều
xảy ra không như ư muốn của họ (chẳng hạn
như bịnh tật, chết chóc, mất người thân
yêu hay những thứ mà họ gắn bó) nên họ tự hỏi
tại sao mọi thứ trên thế gian này lại không xảy
ra như ư muốn, và rằng phải chăng những
điều không hay xảy đến với họ có sự
đồng thuận của đấng Tạo Hóa? nếu
có th́ với lư do ǵ? Cuối cùng, họ tự hỏi ḿnh:
điều ǵ sẽ xảy ra với họ và với những
người khác sau khi chết. Mọi thứ sẽ kết
thúc trong hư vô hay đấng Tạo Hóa sẽ lo liệu?
Tất
cả những câu hỏi này (mà chúng tôi sẽ đề cập
đến trong phần 2 của chương này) là những
biểu hiện của cảm xúc tôn giáo, và từ đấy
nhiều tôn giáo khác nhau đă ra đời (chúng tôi sẽ
nói đến trong phần 1).
Nguyên
lư siêu việt và nguyên lư nội tại
Nói
chung tôn giáo thừa nhận sự tồn tại của một
cái ǵ đó cao hơn chúng ta, một cái ǵ đó thiêng liêng, một
cái ǵ đó chúng ta không thể sờ thấy, nhưng là một
thứ rất thiết thân với chúng ta. Các tôn giáo chia
thành hai nhóm, một nhóm thừa nhận nguyên lư siêu việt, nhóm khác thừa nhận nguyên lư nội tại.
Với
nguyên lư siêu việt, chúng ta
muốn nói đến một thần tính không thuộc vũ
trụ của chúng ta và khác chúng ta về mặt bản chất.
Nó có một bản chất tinh thần và sống trong trời
đất. Theo một số tôn giáo, một nguyên lư siêu việt
như vậy không những tạo nên vũ trụ mà c̣n phản
ánh chính nó lên con người qua sự mặc khải[8],
chúng ta nhận được thông qua kinh sách.
Với
nguyên lư nội tại, chúng
ta muốn nói đến một nguyên nhân (hay tập hợp
một số nguyên nhân khác nhau) nằm trong chính vũ trụ
của chúng ta, và chính nó thường được xem
như là thần thánh; hay nói cách khác, người ta tin rằng
có nhiều quyền lực cùng hoạt động trong vũ
trụ (không khí, lửa và các sức mạnh tự nhiên khác
nhau như gió, mặt trời và các v́ sao) là các khía cạnh
khác nhau của cùng một chiều hướng thiêng liêng.
Những
người không có niềm tin tôn giáo th́ tin vào điều
ǵ?
Những
người không tin vào bất cứ tôn giáo nào cũng có cảm
xúc tôn giáo theo những cách nào đó. Số này bao gồm những
người theo thuyết bất
khả tri và những người vô thần.
Những
người theo thuyết bất
khả tri là những người tin rằng không thể
nào trả lời các câu hỏi đặt ra ở trên. V́ thế
họ không chấp nhận cách giải thích của các tôn
giáo. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ xem
thường những câu hỏi này. V́ thế họ cố
gắng t́m kiếm những nguyên tắc sống cho chính họ
(xem các hệ thống chuẩn
mực đạo đức)
Những
người vô thần là những
người không tin là vũ trụ này do một thực thể
siêu việt tạo nên, và thường th́ họ nghĩ rằng
họ có thể chứng minh được điều này
một cách khoa học. Họ cũng cho rằng sự mặc
khải của các tôn giáo là không thể kiểm chứng
được. Vài người trong số họ chấp
nhận nguyên lư nội tại, nhưng cảm thấy rằng
nếu thần tính là một cái ǵ đó của vũ trụ
mà chúng ta đang sống th́ chẳng có Thượng Đế
nào bên ngoài chúng ta cả. Tuy nhiên, cũng giống như những
người theo thuyết bất khả tri, những
người vô thần cũng cố gắng tuân theo những
nguyên tắc sống nhất định.
Một
số người không tin vào bất cứ điều thần
thánh nào. Họ nghĩ rằng, v́ Thượng Đế
không tồn tại, thế th́ con người được
tự do làm những ǵ mà họ muốn, và để thỏa
măn tất cả những ham muốn của họ, họ
có thể giết người, trộm cướp hay chà
đạp lên quyền của kẻ khác. Nhưng những
trường hợp như thế xảy ra ít thường
xuyên hơn là người ta nghĩ. Không mấy ai lại không
tự hỏi ḿnh rằng điều ǵ là tốt điều
chi là xấu và không cảm thấy rằng ḿnh ràng buộc
với người khác qua sợi dây t́nh cảm, nghĩa vụ
và những trách nhiệm chung. Điều này xảy ra bởi
v́ con người về bản chất là con vật xă hội,
nghĩa là họ chỉ tồn tại khi có ai khác thừa
nhận, yêu thương và giúp đỡ họ. Khi tự hỏi
chính ḿnh về mối quan hệ giữa ḿnh với người
khác và tự hỏi tại sao họ cảm thấy gắn
kết với những người đó, họ diễn tả
một vài dạng cảm xúc tôn giáo, ngay cả khi họ chẳng
tin vào bất ḱ tôn giáo nào.
2.1. CÓ NHIỀU
TÔN GIÁO KHÁC NHAU TRÊN THẾ GIỚI
Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới:
Ấn Độ giáo[9] gồm
nhiều phong trào tôn giáo khác nhau; những truyền thống
tôn giáo khác như Phật giáo, Giai-na giáo, đạo Sikh
đă phát triển thành những tôn giáo riêng biệt bắt
nguồn từ Ấn Độ giáo. Ba tôn giáo độc thần
chính là Do Thái giáo, Ki Tô giáo và Hồi giáo. Một số tôn
giáo lại có nguồn gốc từ những nền văn
hoá cụ thể của những dân tộc cụ thể
như Khổng giáo, Đạo giáo, Thần đạo[10],
và các tôn giáo của thổ dân châu Phi, châu Mỹ, và châu Úc. Có
những tôn giáo như Baha’ th́ kết hợp nhiều yếu
tố từ nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau.
Hiển
nhiên là các tôn giáo được kể ra đây vẫn
chưa là tất cả. Nếu quư độc giả nhă ư
hoàn chỉnh th́ có thể gởi cho chúng tôi những tŕnh bày
tóm tắt của những tôn giáo chưa được
đề cập nơi đây. Vui ḷng liên lạc với
ban biên tập để nhận tờ hướng dẫn
gởi bản tŕnh bày.
Tôn giáo và ngày tháng
Mỗi tôn giáo có một cách tính năm
riêng. Chẳng hạn người Do Thái tính từ lúc
được cho là thế giới ra đời (tính
ngược từ năm 2001 th́ sẽ là 5761 năm); trong
khi đó những người đạo Hồi lại
tính từ kỷ nguyên Hegira (năm 622 theo Tây Lịch, lúc
tiên tri Muhammad chạy từ Mecca đến Medina) (tính
ngược từ năm 2001 sẽ là 1379 năm). Lịch
hiện vẫn được dùng phổ biến trên thế
giới dựa theo lịch Ki Tô giáo (Tây Lịch), trong đó
năm đầu tiên là năm được cho rằng
đấng Jesus Christ ra đời. Như vậy theo Tây Lịch
th́ bây giờ là năm 2004[11].
2.1.1.
KHAI TRIỂN
2.1.1.1. Tôn giáo là ǵ?
Khi so sánh những
truyền thống tôn giáo khác nhau, bạn phải cố bỏ
ra khỏi đầu những định nghĩa sẵn
có của bạn về tôn giáo. Quả thật, từ
"tôn giáo" có lẽ được dùng để chỉ
đến ít nhất là bốn điều dưới
đây:
Tôn giáo như là một tập hợp
những điều thực hành: đó là tập hợp những tập quán, lễ
nghi, chuyện kể, thói quen, được một nhóm
người cố công vun đắp và lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác.
Tôn giáo như là một cái nh́n tổng
thể về cuộc sống: đó là một loạt những niềm tin, một hệ
thống các quy tắc, quan niệm về đúng sai, và nói
chung, đó là một cái nh́n tổng thể nào đó về
cuộc sống.
Tôn giáo như là một học thuyết
thần học: đó là một
học thuyết lư giải mối quan hệ giữa con
người và tất cả những thứ bên ngoài thực
tại cụ thể,
nghĩa là cái chiều siêu
nhiên.
Tôn giáo như là một thái độ
tinh thần mang tính cá nhân: đó là
quan hệ giữa một cá nhân và cái chiều hướng
thiêng liêng. Cái chiều hướng thiêng liêng đó đôi
khi giúp xác định toàn bộ một tôn giáo, và đôi khi
giúp lư giải những đặc điểm truyền thống
vốn có của một người theo cách thức mang tính
cá nhân.
Tuỳ theo
cái nghĩa cụ thể gắn liền với từ “tôn
giáo” mà một truyền thống tâm linh nhất định
nào đó có thể được xem là tôn giáo hay không. Chẳng
hạn một số nhà sử học nghiên cứu tôn giáo
thắc mắc là liệu Phật giáo có thể được
xem như là một tôn giáo giống như Do Thái giáo, Ki Tô
giáo hay Hồi giáo không, v́ nếu người ta định
nghĩa tôn giáo là mối quan hệ giữa con người
và đấng Siêu Nhiên th́ Phật giáo (một truyền thống
tâm linh không tin vào một Thượng Đế) không phải
là một tôn giáo; nhưng nếu người ta mở rộng
nghĩa của từ này ra thành một tập hợp những
bài giảng tinh thần và đạo đức được
một cộng đồng tin theo và thực hiện hàng
ngày th́ đạo Phật lại hoàn toàn là một tôn giáo.
2.1.1.2. Các tôn giáo đă thay đổi
như thế nào?
Theo nhiều
nhà sử học về tôn giáo th́ các tôn giáo trên thế giới
không phải là những hệ thống ổn định
và tuyệt đối chặt chẽ mà là những truyền
thống liên tục thay đổi.
Con người
ta khi đă theo một tôn giáo cụ thể và cố công truyền
bá nó qua từng thế hệ thường gắn kết
đời ḿnh trong một nền văn hoá và bị ảnh
hưởng bởi nền văn hoá đó. Nếu nền
văn hoá đó thay đổi th́ truyền thống tôn giáo
của nó cũng buộc phải thay đổi theo. Chẳng
hạn, hệ thống đẳng cấp từng
được biết đến là vô cùng quan trọng
trong Ấn Độ giáo cũng đă bị Hiến Pháp Ấn
Độ hiện đại xoá bỏ. Hiến Pháp này cấm
tất cả mọi h́nh thức phân biệt đẳng cấp.
Một ví dụ khác về sự thay đổi có thể
thấy trong một truyền thống tôn giáo đó là vai tṛ
của nữ giới trong đạo Phật; đức
Dalai Lama[12]
nói rằng cần phải xem xét lại thật chu toàn vị
trí của nữ giới trong đạo Phật (trong hầu
hết các tôn giáo khác, nữ giới thường có vị
trí không quan trọng và phụ thuộc so với nam giới).
Sự đổi
thay không phải bao giờ cũng được tất cả
các thành viên trong một cộng đồng tôn giáo chấp
nhận. Có đôi khi sự đổi thay c̣n tạo ra t́nh
trạng li khai tôn giáo; dẫn đến sự chia rẽ
trong một truyền thống tôn giáo. Điều này đă
xảy ra đối với Ki Tô giáo một đôi lần;
chẳng hạn khi Giáo Hội Chính Thống Giáo và Giáo Hội
La Mă chính thức tuyên bố tách rời vào năm 1054, hay khi
các Giáo hội Tin Lành ra đời đối lập với
Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mă (bắt đầu từ thế
kỉ thứ 16).
Sự tiếp
xúc với các tôn giáo khác cũng có thể dễ dẫn
đến sự thay đổi. Điều này xảy ra
khi một số thành viên của một tôn giáo nào đó tiếp
xúc với những thành viên của những tôn giáo khác.
Đôi khi lại xảy ra dưới dạng trao đổi
và điều chỉnh cho nhau, như trường hợp xảy
ra ở Tây Ban Nha từ thế kỉ 10-12 đối với
những người theo Do Thái giáo, Hồi giáo và Ki Tô giáo.
Những trường hợp khác th́ sự tiếp xúc lại
có thể làm nảy sinh xung đột. Điều này xảy
ra khi một tôn giáo cố ép những người theo các tôn
giáo khác phải chuyển đổi tôn giáo, hoặc không cho
họ kính trọng các lời dạy hoặc các nghi lễ
của tôn giáo họ, hoặc một số trường hợp
quá đáng c̣n ngăn chặn sự qua lại của những
người thuộc những tôn giáo khác.
Một số
thuật ngữ:
Thuật
giả kim (Alchemy)
Một tập
hợp những học thuyết triết học, những
ma thuật và những khảo cứu trực tiếp về
tự nhiên nhằm t́m ra “viên đá của những triết
gia”, tức là nguyên tắc được cho là có thể
giúp lí giải những bí ẩn của cuộc sống và
có thể chuyển những kim loại thường thành
vàng.
Chủ
nghĩa bài Do Thái (Anti-Semitism)
Sự không
khoan dung đối với người Do Thái
Bồ
Tát (Bodhisattva)
Đối
với những tín đồ Phật Giáo
Đại Thừa, Bồ Tát
là người đă đạt đến giác ngộ,
nhưng không nhập Niết Bàn (giải thoát) mà ở lại
thế gian giúp người khác giải thoát.
Chuẩn
mực đạo đức (Canon)
Một tập
sao lục những văn bản liên quan đến tôn giáo,
một triết lí hay một hệ thống đạo
đức mà một nền văn hoá nào đó coi là nền
tảng.
Lễ
cắt bỏ bao quy đầu (Circumcision)
Một phẫu
thuật cắt bỏ bao quy đầu (lớp da bọc ở
đầu dương vật) mà nguời Do Thái và Hồi
giáo thực hiện trên trẻ sơ sinh và những ai muốn
chuyển sang những tôn giáo này. Việc cắt bỏ bao
quy đầu không gây đau đớn lắm nếu thực
hiện ở trẻ sơ sinh và không gây khiếm khuyết
cho nam giới. Lễ này đă được một số
dân tộc thực hiện trước cả người
Do Thái, và ngày nay những người không phải là tín
đồ Do Thái hay Hồi giáo cũng thực hiện v́ lư
do y học.
Nguồn
gốc vũ trụ (Cosmogony)
Chuyện kể
tôn giáo hay lư thuyết khoa học về nguồn gốc của
vũ trụ
Hoả
táng/ Địa táng/ Ướp xác (Cremation/ Interment/ Embalming)
Những
cách khác nhau để xử lư cơ thể của người
chết; hoả táng là việc thiêu thi hài, và tro có thể
được đem răi hoặc được thu lại
và cất giữ; địa táng là chôn thi hài xuống đất;
ướp xác là cách xử lư nhằm làm ngừng hoặc chậm
lại quá tŕnh phân hủy của xác chết.
Những
cộng đồng sống ly tán (Diaspora)
Sự sinh sống
rải rác của một dân tộc trên thế giới do bị
bắt phải rời bỏ lănh địa ban đầu.
Đặc biệt là sự sinh sống rải rác của
người Do Thái sau cuộc lưu đày Babylon.
Bói
toán (Divination)
Đối
với một số truyền thống tôn giáo phổ biến,
đặc biệt là thời xưa, bói toán là một nghệ
thuật nh́n thấy trước tương lai qua việc
cắt nghĩa một số sự kiện có thực
được cho rằng do thần thánh mang lại.
Niềm
tin vào nỗ lực hợp nhất Ki Tô giáo (Ecumenism)
Một phong
trào với mục đích là hợp nhất những tín
đồ của các giáo hội Ki Tô giáo khác nhau.
Thuật
phù thuỷ (Exorcism)
Nghi lễ
tôn giáo nhằm đuổi trừ tà ma quỷ ở một
người bị cho là ma quỷ ám.
Lễ
ban thánh thể (Eucharist)
Nghi thức
quan trọng nhất của Ki Tô giáo, do đấng Jesus
đưa ra trong bữa ăn tối cuối cùng khi mà ngài
đă mang những con chiên của ḿnh bánh ḿ và rượu
vang, tượng trưng cho thể xác và máu của ngài. Ở
giáo hội Thiên Chúa giáo và giáo hội Chính Thống người
ta tin rằng khi tổ chức lễ ban thánh thể th́ thể
xác và máu của Jesus Christ hiện diện trong bánh và rượu
vang mặc dù h́nh thức bên ngoài của những thức
đó vẫn không hề thay đổi. Một số
người theo đạo Tin Lành (chẳng hạn những
người thuộc giáo phái Martin Luther) rất tin điều
này. Ngược lại, một số giáo hội Tin Lành coi
bánh ḿ và rượu vang là những thứ biểu trưng
trong đó cơ thể và máu của đấng Jesus
đang "hiện diện về mặt tinh thần".
Đạo
sư (Guru)
Guru trong tiếng
Sanskrit có nghĩa là “thầy”, một người mộ
đạo.
Kỉ
nguyên Hồi giáo (Hegira, từ
tiếng Ả rập là hijra)
Cuộc di
chuyển của Mohammed và những tín đồ đầu
tiên của ông từ Mecca đến Medina (năm 622 theo Tây
Lịch), đánh dấu sự khởi đầu của kỉ
nguyên Hồi giáo.
Jihad
Hay bị dịch
sai là “thánh chiến”, Jidah có nghĩa là "đấu tranh
cho sinh tồn". Truyền thống Hồi giáo có hai h́nh
thức Jihad:
1. Đại Jihad gồm việc
đấu tranh chống lại cái Ác, điều mà một
người theo đạo hồi phải làm trong suốt
cuộc đời của ḿnh.
2. Tiểu Jihad từng là cố
gắng chống lại thuyết đa thần. Sau khi Hồi
giáo bành trướng được vài thế kỷ kể
từ ngày khai sinh (Heriga), người ta bắt đầu
tin chắc rằng người Hồi giáo sẽ chinh phục
toàn thế giới; những người đa thần sẽ
bị bị buộc phải cải đạo; trong khi
đó các những người Ki Tô giáo và Do Thái sẽ bị
chế ngự đồng thời được bảo vệ.
Một số phong trào Hồi giáo cực đoan đă lan rộng
và biến khái niệm đó thành một nỗ lực chống
lại những ai coi thường đạo Hồi.
Kaaba
Toà nhà bằng
đá h́nh lập phương toạ lạc giữa Đại
Thánh Đường ở Mecca. Theo truyền thống đạo
Hồi th́ Kaaba được Abraham cùng với con trai
Ishmael xây lên. Đá đen (theo truyền thống đạo
Hồi là vật dung nạp tất cả tội lỗi
trên thế giới) được chèn vào góc ngoài phía
đông nam của Kaaba.
Chế
độ một vợ một chồng/ Chế độ
đa thê (Monogamy/Polygamy)
Chế
độ một vợ một chồng là kiểu hôn phối
mà một người đàn ông chỉ có thể cưới
một người vợ và ngược lại; trong khi chế
độ đa thể là kiểu hôn phối mà một
người đàn ông được quyền cưới
hơn một người vợ.
Pogrom
Từ
"pogrom" tiếng Nga có nghĩa là "phá huỷ"
chỉ những sự tàn sát theo đợt của những
cộng đồng Do Thái thiểu số ở Nga, đặc
biệt là trong thời ḱ cuối thế kỉ 19 và đầu
thế kỉ 20.
Đa
thần giáo/ Độc thần giáo (Polytheism/Monotheism)
Đa thần
giáo là niềm tin cho rằng có nhiều thánh thần tồn
tại. Độc
thần giáo tin rằng chỉ có một vị thần duy
nhất. (Xem thêm bài viết của Ugo Volli).
Tôn
giáo (Religion)
Từ
"religion" (tôn giáo) xuất phát từ tiếng La tinh
"religio" có nghĩa là "tập hợp" (những
thể thức hay những hành động mang tính nghi lễ).
Thuật ngữ
Trung Hoa chỉ gần cùng một khái niệm là
"jiao", có nghĩa là "lời giáo
huấn, học thuyết,
giáo dục". Trong tiếng Nhật, "religion"
được gọi là "kyo": dạy.
Di
vật (Relic)
Đối
với Ki Tô giáo, một di vật là bất ḱ một vật
hay một bộ phận cơ thể thuộc về một
người đuợc coi là thần thánh hay may mắn và
do đó được sùng kính.
Lễ
nghi (Rite)
Từ
"rite" (lễ nghi) xuất phát từ "rita” trong tiếng
Sanskrit mà theo kinh Vệ Đà chỉ sự tham dự của
con người vào trật tự và cấu trúc tự nhiên của
sự vật hiện tượng. Mỗi ngành khoa học
nghiên cứu con người đều đề cập
đến một trong những khía cạnh cụ thể của
các lễ nghi, nhưng tất cả các ngành khoa học
đó đều thừa nhận bản chất của
chúng là tập hợp, lập lại và có hiệu quả.
Có nhiều nguyên tắc hướng dẫn con người
cách xử sự với những điều thiêng liêng. Những
lễ nghi tôn giáo nhằm giới thiệu với những
cá nhân hay cộng đồng một khía cạnh mà theo
đó họ có thể tiếp cận với những
điều thiêng liêng.(Michel Meslin, “Nghi lễ", từ
điển Tôn giáo, phần II, trang 1947, Bayard 1997)
Li
khai tôn giáo (Schism)
Một sự
chia tách xảy ra trong một cộng đồng tôn giáo do
xung đột nội bộ.
Shoah
Cuộc tàn
sát dân Do Thái dưới tay của phát xít Đức trong Thế
chiến thứ hai.
Học
thuyết tổng hợp(Syncretism)
Sự trộn
lẫn các học thuyết và những thói quen tôn giáo khác
nhau để tạo nên một tôn giáo mới. Những-tôn
giáo-châu Phi-hiện đại là một ví dụ xác thực
của học thuyết tổng hợp. Trong tôn giáo mới
này, nhiều yếu tố được lấy từ những
đức tin truyền thống cùng tồn tại một
cách tương đối hài ḥa với những yếu tố
từ các tôn giáo du nhập (đặc biệt là Ki Tô giáo).
Singh
Singh có nghĩa
là "mănh hổ"/ niềm tin dũng mănh; đó cũng
chính là họ của tất cả những người
theo đạo Sikh (từ giống cái tương
đương với Singh là Kaur: sư tử cái).
Đạo
su-fi (Sufism)
Một phong
trào huyền bí của Hồi giáo. Từ "sufism" xuất
phát từ từ "suf" trong tiếng Ả rập, có
nghĩa là "len", và chỉ những áo dài bằng len
thô mà những người cầu kinh đầu tiên của
Hồi giáo đă thường hay mặc.
Yoga
Một hệ
thống triết lư và phương pháp tự kiềm chế
do các tín đồ Ấn Độ giáo, Phật giáo và Giai-na giáo phát triển Những người
này, qua việc luyện tập một số kỹ năng
cơ thể (đặc biệt là việc điều ḥa
hơi thở), đă có thể đạt tới được
một trạng thái tập trung cao độ, khi đó tinh
thần có thể hoà hợp với cái tuyệt đối
(Đại Ngă).
2.1.1.3 Các tôn giáo trên thế giới
2.1.1.3 Các tôn giáo trên thế giới

Đạo Bahá’ Phật
giáo Ki Tô giáo Khổng
giáo

Đạo
giáo Ấn Độ giáo Hồi giáo Giai-na giáo

Do Thái giáo Thần đạo Đạo Sikh Các tôn giáo
truyền thống Phi Châu
2.1.2. VÍ DỤ
(..)
2.1.3. BÀI TẬP
(..)
2.1.4. TRÍCH DẪN
Ugo Volli: Đa thần giáo và Độc thần
giáo
Đa thần giáo là một niềm tin vào một vài đấng siêu
nhiên, được gọi là các thần linh. Cùng với
thuyết vật linh, thuyết cho rằng thế giới
này đầy những lực lượng siêu nhiên, Đa
thần giáo là h́nh thức tôn giáo phổ biến nhất
trong xă hội loài người. Người ta có thể nghĩ
về các thánh thần dưới một vài h́nh thức
khác nhau. Những câu chuyện về họ có thể vô cùng
rối rắm và thậm chí tên tuổi họ c̣n có thể
bị cấm nhắc đến. Điều quan trọng
là những vị thánh thần đó tồn tại bên ngoài
thế giới tự nhiên, không phải bằng
xương bằng thịt và mang trong ḿnh những sức
mạnh không giống như những thứ xung quanh chúng
ta, trong khi họ vẫn là con người, tức là những
nhân vật quan trọng tương tự như con người,
và rằng có rất nhiều vị thánh thần như thế
và do đó giữa các vị với nhau ít nhất cũng nảy
sinh xung đột. Những người theo Đa thần
giáo tin rằng thực tế được h́nh thành và phát
triển nhờ những hành động siêu nhiên của các
thánh thần và đây không phải là một kế hoạch
đơn lẻ mà do xung đột và tranh đua giữa
các vị mà ra. Có những vị thần thiện và cũng
có những vị thần ác, có vị kiểm soát một
khía cạnh nào đó của thực tại hoặc hiện
hữu (chẳng hạn như thần biển, thần săn bắn, hay thần vẻ đẹp), có vị th́ kiểm
soát những khía cạnh khác.
Một kiểu
quan niệm tôn giáo khác khá hiếm hoi, mặc dù đă trở
thành một lực lượng chủ chốt trên thế
giới, là Độc thần
giáo. Đó là một hệ thống trong đó người
ta quan niệm thánh thần là duy nhất và mang tính cá nhân.
Nguyên tắc chính của Độc thần giáo là chỉ tồn
tại duy nhất một vị thần. Có lẽ vị thần
đó có thể chấp nhận một số thực thể
tinh thần dưới ḿnh (như các thiên thần, các vị
thánh, ma quỷ), tức là họ ra đời từ vị
thần duy nhất này chứ không phải độc lập
tự trị. Vị thần độc nhất, người
là hiện thân của tất cả các bản chất thần
thánh và là một nhân vật ("ngài" không phải là một
thế lực mà là một ai đó có ư chí cá nhân, có tri thức,
cảm giác, vân vân) thường được xem như
mang trong ḿnh những đặc tính cơ bản: là đấng
tạo hoá của thế giới, là bất diệt, thông suốt,
có quyền năng vô biên, công bằng, tốt bụng, vân
vân.
H́nh thức
độc thần giáo phổ biến trên thế giới
đang tồn tại ở một số biến thể
(Ki Tô giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo) là được những
người Do Thái xác lập cách đây khoảng ba ngàn
năm, nhưng trong lịch sử tôn giáo và triết học
cũng có các h́nh thức độc thần giáo khác, chẳng
hạn ở Ai Cập, Ấn Độ, Hy Lạp cổ,
và trong các tác phẩm của Plato và Aristole. Thật ra, khi cho
rằng chỉ tồn tại một vị thần duy nhất,
Độc thần giáo đă tỏ ra phù hợp với lối
phân tích về thực tế trên khía cạnh một nguyên tắc,
một cơ sở căn bản, và một hệ thống
đạo đức, do đó mới có thể hướng
được những t́nh cảm tôn giáo khỏi những
những thêm thắt sinh động của huyền thoại
và đi theo con đường duy lí hơn. Tuy nhiên điểm hạn
chế mà trường phái này gặp
phải là khi đi lý giải những
mặt phi lý và tiêu cực của
đời sống. Thực ra
nếu chỉ tồn tại duy nhất một vị thần
th́ ngài phải chịu trách nhiệm cho tất cả mọi
việc xảy ra, kể cả điều ác và những
điều vô lư trong cuộc sống, những điều
mà theo Đa thần giáo th́ có thể lại xuất phát từ
hành động của những vị thần độc
ác hoặc thậm chí do xung đột giữa các vị thần
mà ra.
Trong tư tưởng văn hóa Châu Âu (hay
văn hóa phương Tây nói chung), ảnh
hưởng sâu sắc của các
trường phái tôn giáo độc thần lên
những phương diện như luật pháp,
khoa học, nghệ thuật... phản ánh sự
ưa chuộng tính đơn nguyên hơn là đa
nguyên của các nền văn hóa này. Chỉ có sự tồn tại của
một nguyên nhân được xác định rơ mang đến
cho chúng ta một sự lư giải trọn vẹn, chỉ
có một h́nh thức khép kín mới thoả măn được
cảm nhận thẩm mỹ của chúng ta, v.v... và v.v...
Đa thần giáo và độc thần giáo v́ thế không chỉ
là các lư thuyết tôn giáo, mà chúng c̣n là những đặc
điểm căn bản của cái cách mà người ta
suy nghĩ.
Ugo Volli: Polytheism and Monotheism
(..)
2.2.
MỘT SỐ NGƯỜI ĐỊNH NGHĨA CON NGƯỜI
LÀ ĐỘNG VẬT TÔN GIÁO
Khi con người băn khoăn thế
giới này được tạo ra như thế nào,
điều ǵ xảy ra sau khi chúng ta chết, tại sao có mặt
những nỗi khổ đau, làm sao để nhận biết
cái Thiện, cái Ác, nhiều người t́m thấy lời
giải đáp trong tôn giáo. Khi so sánh các truyền thống
tôn giáo khác nhau, chúng ta thấy rằng phần lớn những
câu hỏi đều giống nhau, nhưng các câu trả lời
th́ khác nhau tùy vào từng tôn giáo cụ thể.
2.2.1 KHAI
TRIỂN...
2.2.1.1 Thế giới được
tạo ra như thế nào?
Hàng ngh́n năm nay, con người luôn
đặt câu hỏi vũ trụ này được tạo
ra như thế nào, tại sao chúng ta lại có mặt trên
cuộc đời này, chúng ta phải cư xử ra sao…
Chúng ta sinh ra là cho một mục đích nào đó chăng,
hay sự có mặt này là kết quả của một sự
t́nh cờ nào đó?
Những câu hỏi nảy sinh khi
người ta quan sát thấy tất cả những thứ
có mặt xung quanh ta (từ những vật vô tri vô giác
đến các sinh vật) được tạo ra vào một
thời điểm nhất định như là kết quả
của một nguyên nhân nào đó. Nhưng, đâu là nguyên
nhân tối thượng?
Mỗi nền văn hóa khác nhau
đưa ra những câu trả lời khác nhau cho những
thắc mắc này. Hầu hết các truyền thống tôn
giáo đều xây dựng nên những lư giải về giai
đoạn khởi nguyên, hay vũ trụ luận, kể về
nguồn gốc của thế giới. Ở đây, chúng
ta sẽ bàn đến một trong những lư giải này
(xem văn bản gốc của nó nằm ở phần
trích dẫn).
Các nhà
khoa học nói ǵ?[13]
Khoa học cũng băn khoăn về
những vấn đề liên quan đến nguồn gốc
của vũ trụ được giải thích thông qua tôn
giáo. Nhưng thay v́ giải thích những huyền thoại về
sự tạo dựng thế giới dựa theo sách Khải
Huyền[14], do tổ tiên truyền
miệng qua nhiều đời, hay từ những sách thánh
được ghi chép lại, những nhà khoa học trong mọi
thời tiến hành việc quan sát bằng những dụng
cụ mà họ có được. Sau khi thực hiện nhiều
thí nghiệm khác nhau, họ đi đến những giả
thiết về nguồn gốc h́nh thành vũ trụ. Kết
quả là, không tồn tại một vũ trụ luận
khoa học đơn nhất được thiết lập
một lần và đúng hoàn toàn, mà là một phức hợp
các lư thuyết tiếp nối và loại trừ lẫn nhau
nhằm dần tái dựng lại một bức tranh khả
dĩ về “ba phút đầu tiên của vũ trụ”
Có thể xem thêm một số giải
thích khoa học phổ biến ở phần trích dẫn.
Một trong những giải thích về
vũ trụ được chấp nhận rộng răi nhất
(đồng thời cũng gây nhiều tranh căi) là “Lư thuyết
Vụ Nổ Lớn” (Big Bang), theo đó vũ trụ nguyên
thủy như một cái “ḷ lửa” đậm đặc
h́nh thành bắt đầu từ một vụ nổ lớn
được cho rằng xảy ra đồng thời tại
mọi điểm trong không gian, khoảng 15 tỉ năm về
trước. Vụ nổ này tạo tiền đề cho
sự tiếp tục giăn nở của vũ trụ, bằng
việc sinh ra hằng tỉ các thiên hà (mỗi thiên hà
được tạo nên từ hằng trăm tỉ các
v́ sao)
Cách đây khoảng 4 tỉ sáu
trăm triệu năm, một đám mây khí bốc cháy và trở
thành một ngôi sao, đó chính là sự ra đời của
Mặt Trời, được bao quanh bởi chín hành tinh
trong Thái Dương Hệ. Trái Đất, một trong số
các hành tinh, được tạo nên bởi một chuỗi
những phản ứng hóa học cực ḱ phức tạp
(phần lớn vẫn chưa đuợc biết đến),
h́nh thành nên những phân tử sống cơ bản đầu
tiên. Những dạng sống bậc thấp dần tiến
hóa thành dạng sống bậc cao, đến những sinh
vật ta thấy ngày nay, hiển nhiên có cả con người.
Nhiều tôn giáo chấp nhận những
giải thích của các nhà khoa học, miễn sao nó không đi
ngược lại kinh điển của họ. Theo họ,
cách giải thích trong kinh điển dễ hiểu đối
với những người sống ở thời cổ
xưa. Những người khác, mà vị thế được
mô tả như “người theo trào lưu chính thống”
th́ cho rằng chỉ những lời giải thích
được đưa ra trong Kinh Thánh mới là Chân Lư.
Kinh
điển tôn giáo nói ǵ?
Theo như 3 tôn giáo độc thần
(Do Thái giáo, Ki Tô giáo và Hồi giáo) th́ Chúa (đấng vô cùng)
đă tạo nên vũ trụ hữu hạn này.
Câu chuyện trong Genesis (quyển đầu của Thánh Kinh) nói
đến việc Chúa đă tạo nên thế giới, ở
đó có thiên đàng và mặt đất, trong sáu ngày như
thế nào. Ngày thứ nhất Chúa mang đến ánh sáng từ
những nơi tối tăm, ngày thứ hai tách rời bầu
trời và mặt biển, ngày thứ ba phân tách trái đất
từ nước và gieo giống các loại cây trồng,
ngày thứ tư tạo ra mặt trời, mặt trăng
và các v́ sao, ngày thứ năm tạo nên sự sống cho
các loài chim cá, ngày cuối cùng Chúa h́nh thành ra các loài sinh vật
trên mặt đất và con người. Chúa tạo nên con
người từ ư tưởng riêng của ḿnh và gần
như tương tự nhau để họ có thể thống
trị được tất cả mọi loại sinh vật
khác.
Theo Ấn Độ giáo, vũ trụ
là vĩnh hằng, nó không được tạo nên cũng
sẽ không mất đi, mà vận hành theo một qui tŕnh tuần
hoàn tự sinh rồi tự hoại. Sau một quá tŕnh giăn
nở không ngừng, thường mất hàng triệu năm,
vũ trụ (hay Hiện Thể)
thu nhỏ thêm vài triệu năm nữa, cho đến khi một
lần nữa trở thành Phi
Hiện Thể, ở đây không nghĩa là Hư Không mà là một dạng
chaos (trạng thái hỗn
độn, vô trật tự). Sau đó, cái Phi Hiện Thể này, vốn là phần c̣n lại
của Hiện Thể thực
sự hay ở dạng tiềm ẩn, chuyển đến
một giai đoạn giăn nở khác và do đó bước
vào một giai đoạn khác của vũ trụ.
Dưới ánh sáng của quan niệm
về vũ trụ vô hạn này, chúng ta nên xem xét thêm những
mô tả trong Kinh Vệ Đà liên quan đến vấn
đề khởi nguyên của thế giới. Trong Rigveda (X, 129) vấn đề nguồn gốc vũ trụ
sẽ làm nảy sinh một tranh luận triết học
nan giải về điều bí ẩn trong mối quan hệ
giữa Hiện Thể và Phi Hiện Thể.
Trong một bài kinh Vệ Đà khác
(Rigveda, X, 90), câu chuyện kể về Purusa, một người
khổng lồ có một ngh́n cái đầu, một ngh́n
đôi mắt, một ngh́n chân, đă hiến ḿnh như một
tặng vật và rồi từ những phần của
cơ thể ông ta mà mọi thứ được sinh ra.
Có thể t́m thấy mô-típ về sự
tạo nên vũ trụ nhờ sự phân cách của một
vật sống khổng lồ trong các câu chuyện cổ
Trung Quốc, theo đó mọi vật đều có nguồn
gốc từ một vị thần khổng lồ Pangu,
đó là thần trụ trời, sinh vật đầu tiên
trên mặt đất, ngay từ khi sinh ra đă đứng
sừng sững như một cây cột chống trời,
chia tách bầu trời và mặt đất. Sau khi vị thần
này mất đi, những phần khác nhau của cơ thể
ông ta trở thành những hiện tượng khác nhau trong
tự nhiên và mọi dạng thức trong đời sống:
hơi thở của ông ta tạo nên gió và mây, giọng nói
làm ra sấm, chớp, mắt trái là mặt trời, mắt
phải là mặt trăng, bốn phương trời, rừng
núi h́nh thành từ tứ chi và thân thể của vị thần,
máu thành sông, những mạch huyết quản biến thành
đường sá, da thịt tạo ra trái đất, mái
tóc hóa những v́ sao, xương và răng của ông thành
kim loại và đất đá, mồ hôi làm nên những giọt
sương, và con người th́ được sinh ra từ
những kư sinh trùng sống trên cơ thể ông.
Cách thức h́nh thành vũ trụ có thể
có nhiều dạng khác nhau, đôi khi được hiểu
là cách thức mô phỏng một dạng vật chất ban
đầu. Do vậy, những người Anh-điêng sống
ở vùng thung lũng hạ lưu sông Yakima[15]
mô tả việc Đức Chúa Trời tạo nên núi non bằng
những nắm bùn đất, và cũng dùng chính những
chất liệu đó để “nặn” ra loài người.
Theo tín ngưỡng Thần đạo,
thế giới ra đời (trùng với sự khai sinh ra
nước Nhật) khi thần Izanagi cùng chị gái của
ông, Izanami, dùng thanh giáo của ḿnh nhào nặng những khối
không rơ h́nh thù của trái đất cho đến khi chúng cô
đặc lại. Những mẩu sót trên đầu mũi
giáo h́nh thành nên phần chính ḥn đảo Nhật Bản, họ
tiếp tục tạo ra những đảo nhỏ hơn
cùng những thế lực siêu nhiên. Cuối cùng, Izanagi nhập
Thiên Đàng, dành phần cai quản bầu trời cho nữ
thần mặt trời Amaterasu, thần mặt trăng
Tsukiyomi quản lư thế giới vào đêm và thần băo tố
Susanoo thống trị đại dương, trong khi Izanami
đi xuống âm ty.
Ở những truyền thống khác,
sự tạo thành thế giới đồng nhất với
việc gọi tên sự vật, làm cho chúng hiện hữu.
Ư niệm này được t́m thấy
trong những tôn giáo bản địa của người
Úc, theo đó, từ thuở ban đầu mọi dạng
thức của đời sống (“tổ tiên”) đều
tồn tại ở trạng thái “tĩnh” dưới bề
mặt trái đất, ẩn trong những hố bùn. Cho
đến một ngày, mắt trời chui ra khỏi cái hố
của ḿnh, và bằng cách sưởi ấm trái đất,
mặt trời đánh thức ông bà, tổ tiên của nó ra
khỏi những chiếc hố và bắt đầu ca hát,
đi lại…Những bài hát của họ tạo nên sự
sống cho vạn vật, họ đi gieo rắc âm nhạc
khắp nơi để biến thế giới thành một
bản đồng ca hoà hợp.
Theo một số triết gia thời
cổ đại, trong đó có Plato cho rằng thế giới
này không phải do Thượng đế trực tiếp tạo
nên mà do một trong số những người hầu cận
của Ngài là Demlurge. Sau đó, vào những thế kỷ
đầu tiên của Ki Tô giáo, ư tưởng này là nguồn
gốc cho những giải thích (được xem là dị
giáo trong nhà thờ) như của các nhóm Neoplatonics và Gnostics[16],
rằng Chúa là một cái ǵ đó không tiếp cận
được và không nhận thức được
nhưng có thể “chuyển hóa được”, nói cách khác,
Chúa biến đổi dần dần chính ḿnh thành những
trạng thái thấp hơn của vũ trụ, từ những
thực thể tâm linh như các thiên thần hay những thế
lực siêu nhiên thấp hơn khác, cho đến vật chất.
Một trong những hoá thân trung gian đó là Demiurge, người
tạo nên thế giới nhưng lại làm hỏng mất
nó. Điều này giải thích cho sự có mặt của những
cái xấu xa trên thế giới. Việc làm của những
người chính nghĩa nhờ đó sẽ giải phóng bản
thân họ khỏi sự bạo hành vật chất (vốn
tự nó là xấu) và quay về với bản thể thuần
khiết của Chúa.
Nhưng không phải tôn giáo nào cũng
có vũ trụ luận. Đôi khi câu hỏi về nguồn
gốc thế giới được để mở một
cách có chủ ư. Theo Phật giáo, nguồn gốc thế giới
(hữu hạn hay vô hạn) là một câu hỏi đưa
ra không có câu trả lời. Một người bị
thương v́ một mũi tên th́ trước hết không
cần biết ai đă bắn ḿnh, cũng không cần biết
ḿnh bị bắn bởi cái thứ chi. Quan trọng nhất
là chữa trị vết thương, làm cho đỡ cảm
thấy đau đớn. Tương tự, người
ta cần có một con đường giải thoát ḿnh khỏi
những nỗi khổ đau, chứ không phải cứ
đi trả lời cho những câu hỏi bất khả
luận.
2.2.1.2. Điều ǵ xảy ra sau khi
chúng ta chết?
T́nh cảm tôn giáo nảy sinh từ ư
thức của con người về sự hữu hạn
của đời sống và từ niềm hy vọng về
một điều ǵ đó sau khi chết. Theo những nhà
nghiên cứu về tôn giáo, khởi thủy của tôn giáo có
thể truy nguyên về lại thời ḱ khi mà những
người nguyên thủy bắt đầu biết chôn cất
những người chết, và bằng cách đó phân biệt
bản thân ḿnh với những loài động vật khác
(động vật không ư thức được cái chết
của chúng và không quan tâm đến những con đă chết)
đồng thời chỉ ra rằng họ đă gởi
theo đó một thông điệp có ư nghĩa vô cùng quan trọng
từ nơi chúng ta đang sống đây đến thế
giới sau khi chết. Những nghi thức tang lễ kèm
theo việc chôn cất, hỏa táng, thả tro thi hài người
chết trên sông, biển, và những phương thức xử
lư khác cho người đă khuất. tạo nên một sự
nối kết về mặt tâm linh giữa người sống
và thế giới bên kia, đồng thời mang lại cho
chúng ta một h́nh dung về những ǵ sẽ xảy ra sau
khi chết.
2.2.1.2.1.Thế
giới bên kia : Thiên đường và địa ngục
Theo quan điểm của ba trường
phái tôn giáo độc thần, vào giây phút ĺa đời, linh
hồn con người sẽ hoàn toàn rời bỏ thân xác cũng
như rời bỏ cơi đời này để về với
Chúa. Mỗi tôn giáo có quan niệm mỗi khác về thế
giới bên kia, và trong cùng một truyền thống tôn giáo cũng
có thể có những nh́n nhận khác nhau về điều
này.
Trong Pentateuch
(Kinh Thánh của người Ki Tô giáo và Do Thái giáo) không nêu rơ
điều ǵ sẽ xảy ra cho con người sau khi chết
nhưng nhấn mạnh đến những sự hồi
sinh sau lời phán xét của Đấng toàn năng. Ư niệm
về Địa ngục chỉ được nhắc
đến trong những văn bản sau này. Theo đạo
Do Thái cổ, linh hồn những người đă chết
nhập vào cùng nhau để tạo nên một thế giới
của những âm hồn. Vào thế kỷ thứ nhất
sau Công nguyên, một số các trường phái tư tưởng
đă đưa ra quan điểm của ḿnh về số
phận sau này của người đă khuất phần lớn
sẽ được định đoạt dựa theo
cách họ đă sống ra sao trước đó, sau khi
lưu trú ở cơi Âm ty môt thời gian, linh hồn của những
người lương thiện sẽ được lên
Thiên Đàng, c̣n những kẻ gian ác sẽ bị đày xuống
Địa ngục. Những trường phái khác th́ cho rằng
những h́nh phạt nghiêm khắc đối với những
kẻ có tội sẽ chỉ là tạm thời, để
họ chuộc lại lỗi lầm đă phạm, sau khi
thi hành xong những h́nh phạt đó họ sẽ đựợc
đón nhận lên Thiên Đàng. Tuy nhiên, đối với những
tội lỗi quá nghiêm trọng, linh hồn của kẻ
có tội sẽ bị đọa đày rất man rợ,
ít nhất cho đến Ngày Phán Xét.
Theo Ki Tô giáo, những người tốt
lên Thiên Đàng sẽ được tận hưởng một
trạng thái hạnh phúc vĩnh viễn, c̣n kẻ ác bị
đày xuống địa ngục sẽ phải chịu
những đ̣n tra tấn khủng khiếp. Vào thời
Trung Đại, giáo lư Thiên Chúa bổ sung thêm một vị
trí trung gian, nơi dành cho những linh hồn có tội
ăn năn, hối cải về những lỗi lầm
của ḿnh trước khi họ được đón nhận
lên Thiên Đàng. Những người theo đạo Tin Lành
và Chính Thống Giáo th́ không chấp nhận quan điểm
về sự hối cải.
Hồi Giáo th́ tuyên bố những ai
không tin có mặt Đấng tối cao duy nhất sẽ bị
thiêu cháy ở địa ngục. Khi một người chết,
linh hồn anh ta sẽ được hai thiên thần thẩm
vấn thuật lại tuyên xưng Đức Tin của
ḿnh, nếu không làm được điều này sẽ bị
đày vào địa ngục. Vào ngày Phán Xét cuối cùng,
Thượng Đế tiến hành xem xét loài người,
những người xứng đáng sẽ được
ban ân huệ diện kiến dung nhan của Người.
2.2.1.2.2.
Sự tái sinh
Nhiều tôn giáo cho rằng linh hồn
con người phải trải qua rất nhiều lần
tái sinh trước khi đạt đến sự giải
thoát, nói cách khác là chấm dứt ṿng sinh tử luân hồi.
Tin rằng linh hồn con người có sự luân hồi
là một đặc trưng nổi bật xuất phát từ
Ấn Độ giáo.
Người theo Ấn Độ giáo
và Giai-na giáo tin rằng khi chết tất cả mọi sinh
vật sẽ được đầu thai ở một
cơ thể khác, một con vật khác, một loại thực
vật, hay là một con người khác. Chuỗi những
đời sống luân phiên, nối tiếp như vậy
mang lại một cái nh́n đầy bi kịch về sự
khát khao được giải thoát. Sự giải thoát
(moksha) bao hàm trong việc khám phá ra bản chất ảo
tưởng của cái tôi cá nhân (atman, tiểu ngă), để
thể nhập vào Brahman (Đại Ngă).
Theo Phật giáo, 49 ngày sau khi chết,
linh hồn sẽ lang thang vật vờ giữa Cơi Sống
và Cơi Chết để bắt đầu cho cuộc đầu
thai mới vào một cơ thể khác được quyết
định bởi cơ chế Nghiệp Báo (karma). Cũng
giống như trong Ấn Độ giáo, mục đích tối
cần của đạo Phật là chấm dứt sinh tử
luân hồi, đạt đến trạng thái đoạn
tuyệt khổ đau, hay Niết Bàn (Nirvana).
Người Sikh cũng tin vào sự
tái sinh, mặc dù theo quan niệm của họ “giải
thoát” không bao gồm việc diệt trừ cái bản ngă của
ḿnh mà bằng việc thể nhập linh hồn với
Thượng Đế.
2.2.1.2.3 Tổ
tiên
Trong một vài hệ thống tôn giáo,
cái chết được xem như sự tiếp nối
của mỗi cá nhân để trở về cùng tổ
tiên. Tổ tiên đóng vai tṛ trong đời sống con cháu
của ḿnh bằng cách liên lạc trực tiếp với họ,
bảo vệ (hay trong một số trường hợp là
chống lại), tán thành hay không tán thành những hành động
của họ và có mặt khi trong gia đ́nh có việc cần
cầu khấn đến tổ tiên trong những nghi lễ
cầu an.
Những tôn giáo truyền thống
Trung Hoa cho rằng không có một sự phân biệt rạch
ṛi nào giữa thế giới của người sống
và người chết, người chết không từ bỏ
thế giới người sống mà trở thành tổ
tiên và như vậy họ tiếp tục tham gia vào đời
sống mọi mặt của gia đ́nh mà họ đă sinh
ra bằng cách bảo vệ và chỉ dẫn cho thế hệ
con cháu ḿnh. Trong xă hội truyền thống Trung Hoa, mỗi
nhà đều có bàn thờ trên đó có đặt những
tấm bài vị khắc tên và những chiến công hiển
hách của cha ông họ. Những quyết định quan
trọng, ví dụ như chọn con dâu được diễn
ra trước sự chứng kiến của tổ tiên và
nghĩa vụ cao cả của những người c̣n sống
là sinh con đẻ cháu nhằm duy tŕ tính liên tục của
ḍng họ và giữ cho những kí ức về tổ tiên
được sống măi. Năm thế hệ tổ tiên
sẽ được cùng thờ phụng trong nhà, khi
người đứng đầu trong gia đ́nh mất
đi, bài vị của thế hệ lâu đời nhất
sẽ được đốt để thay bằng
người mới mất này. Tuy vậy, sức mạnh tổ
tiên vẫn không bị phân tản bởi tên của vị
(mà bài vị vừa đuợc đốt) đó sẽ
được dùng để đặt tên cho đứa
bé tiếp theo sinh ra trong gia đ́nh.
Theo các tôn giáo truyền thống Phi
châu, người chết không biến mất khỏi hành
tinh sống này mà tiếp tục tham gia vào đời sống
của con cháu họ dưới h́nh thức những “linh hồn
hộ mệnh”. Tuy nhiên, không phải người chết
nào cũng trở thành tổ tiên, đó là trẻ em, người
“điên loạn”, “bất b́nh thường”, hay những
người có hành động phá hoại cộng đồng.
Bên cạnh đó, trong nhiều xă hội Châu Phi, những
người chết thảm hay chết trong những hoàn cảnh
bí ẩn cũng không trở thành tổ tiên. Họ bị
xem như những linh hồn lang bạt, thường là mối
đe doạ cho cộng đồng.
Tổ tiên có những cá tính riêng biệt,
họ có thể rất nhân từ hay bẳn gắt, nóng nảy
hay dịu dàng…Người già có những mối liên hệ
trực tiếp với tổ tiên của ḿnh, thông qua đó
họ làm cầu nối chuyển tải những lời
khuyên hay điều cần ngăn cấm đến cộng
đồng. Nếu con người làm trái với ư muốn
của tổ tiên, hay không lưu tâm đến chúng, các bậc
tiền bối sẽ nổi giận và thể hiện sự
phẫn nộ của ḿnh bằng cách gây ra những thảm
họa (như bệnh tật, hạn hán…). Khi một đứa
bé được sinh ra, đó cũng là dịp để
tôn vinh tổ tiên. Trong thực tế, các bậc cha mẹ
hoàn toàn có thể đặt tên con cái ḿnh theo một vị
tiền bối mà họ đặc biệt tôn quí. Cũng
có khi tổ tiên đích thân “báo” cho các bậc cha mẹ họ
mong muốn đứa trẻ sẽ được đặt
theo tên của ḿnh. Việc đặt tên có ư nghĩa rất
quan trọng ở Châu Phi bởi nó quyết định
đến đặc tính cá nhân của trẻ. Người
ta cho rằng đứa trẻ không chỉ mang tên mà c̣n có
được cả những đặc điểm về
nhân cách của người mà chúng được đặt
tên theo.
Tổ tiên là người ǵn giữ những
truyền thống của cộng đồng, và tiếp tục
giữ vai tṛ trung tâm trong nhóm họ đă sống, thực
hiện những trách nhiệm của ḿnh đối với
con cháu. Cộng đồng bày tỏ sự tôn kính tổ
tiên thông qua việc tạo ra nhiều nghi lễ nhằm giữ
được mối quan hệ với thế giới tâm
linh được sống măi.
2.2.1.2.4.
Hư vô
Những nguời không tin vào Thượng
Đế tối thượng phủ nhận việc linh
hồn tái sinh và cho rằng không c̣n ǵ nữa sau khi chết.
Ít nhất, chỉ c̣n lại những hồi ức về
người đă khuất đọng lại trong tâm trí của
những người đang c̣n sống. Thời Hy Lạp
cổ đại, Epicurus[17]
từng nói: “Khi ta sống th́ không có cái chết. Khi cái chết
đến th́ không c̣n ta”. V́ vậy chúng ta đừng nên e
ngại về cái chết.
2.2.1.3.Tại sao chúng ta khổ đau?
Con người nhận thức từ
rất sớm rằng đă sinh ra trên đời cũng
đồng nghĩa chấp nhận khổ đau. Trong tất
cả các tôn giáo, vấn đề cốt yếu không phải
là trốn tránh khổ đau mà làm cho chúng trở nên có thể
chịu đựng được. Một trong những
cách xử lư đối với cái chết, bệnh tật,
đau đớn về thể xác, mất mát (của cải
hay những người thân yêu của ḿnh), hay mất
đi những thứ chúng ta ham muốn mănh liệt… là t́m
ra một lư giải nhằm biện minh cho những khổ
đau đó.
(..)
2.2.4.4.Cái ǵ là tốt, cái ǵ là xấu?
Mỗi truyền thống tôn giáo đều
đưa ra một loạt những nguyên tắc đạo
đức xác định cái ǵ là tốt, cái ǵ là xấu, và
không cần thiết phải có sự tương đồng
về khái niệm rằng hành vi được xem là tích cực
(hay tiêu cực) trong tôn giáo này sẽ được xem là
tương tự trong những tôn giáo khác.
Trừ ra một số nguyên tắc
là trụ cột hệ thống đạo đức của
mỗi tôn giáo (ví dụ như Muời
Điều Răn dành cho người theo Do Thái giáo và Ki
Tô giáo), những nguyên tắc đạo đức không hoàn
toàn bất di bất dịch và, đôi khi, c̣n được
chuyển đổi lại cho phù hợp với những
thay đổi về văn hóa và khả năng thích ứng
của cộng đồng. Do đó, trong truyền thống
tôn giáo cổ, người ta có thói quen dùng con người
để tế các vị thần nhằm làm vui ḷng họ
nhưng dần dần nhận thấy luật lệ này là
quá sức nhẫn tâm, người ta đă quyết định
thay thế nạn nhân con người bằng động vật.
Và rồi đến khi con người cảm nhận
đựơc những khổ đau mà con vật phải
gánh chịu, những nghi lễ hiến tế này dần dần
đến phiên chúng bị loại bỏ trong những tôn
giáo truyền thống.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng,
trong nội bộ những cộng đồng tôn giáo, có
trường hợp người có hành vi lương thiện,
kẻ độc ác, và cũng có những người không
tin vào một tôn giáo nào chỉ cống hiến cuộc
đời ḿnh để mang lại điều tốt
đẹp cho người khác
2.2.1.4.1. Những hệ thống chuẩn
mực đạo đức
Mỗi một tôn giáo khác nhau
đưa ra những con đường khác nhau về sự
cứu rỗi, chuộc tội hay giải thoát nhằm trả
lời cho câu hỏi làm thế nào con người có thể
đoạn tuyệt được những nỗi khổ
đau của chính ḿnh và người khác. Nh́n chung, có thể
thấy linh hồn được cứu rỗi theo ba con
đường chỉ ra sau:
- Con
đường hành động: Một vài tôn giáo
đưa ra những giá trị đạo đức nền
tảng cho tín đồ của ḿnh và hướng họ
đến việc thi hành những cấm điều.
- Con
đường niềm tin: Một số th́ nhấn mạnh
để đạt được sự cứu rỗi
thật sự, con người cần có đầy đủ
niềm tin, sự tuân phục, t́nh yêu và sự hiến dâng
đối với Chúa.
- Con
đường trí tuệ: Theo một số truyền thống
tôn giáo, kiến thức có được (nhờ nghiên cứu,
thiền định...), cho phép mỗi cá nhân thấu suốt
được bản tính vô thường của vạn vật,
nhờ đó tiến đến gần hơn với thế
giới thần thánh.
Liên quan đến những chuẩn mực
đạo đức, ở đây chúng ta qui những
điều đă nói trên về con đường đầu
tiên (con đường hành động): Vậy đâu là
cư xử đúng đắn nhất?
(..)
2.2.1.4.2 Quy tắc vàng
Có một tiêu chuẩn đạo
đức nào chung cho mọi tôn giáo không? Quy tắc vàng (điều ǵ không muốn xảy
ra cho ḿnh th́ đừng đem đến cho người
khác) được t́m thấy trong kinh điển nhiều
tôn giáo. Thánh Kinh của người Do Thái (Leviticus 19.18) nói : “Yêu người như yêu ḿnh ”;
Kinh Phúc Âm có viết : “Bất kỳ điều ǵ ta muốn
người khác làm cho ta, th́ ta cũng phải làm như vậy
đối với họ” (Matthew
7.12); Hồi giáo cho rằng : “Kẻ nào ḷng dạ hẹp
ḥi ngay cả với anh trai ḿnh th́ kẻ đó không phải
là một tín đồ đạo Hồi ” (The Forty Hadith of al-Nawawi 13); Ấn Độ giáo cung
hiến: “Này các bậc thiện tri thức, đây là pháp tối
thượng: nếu ta khao khát được sống một
đời sống như thế nào th́ hăy để cho
đời sống của các sinh vật khác được
như thế ấy” (Mahabharata,
13.116.2); đạo Giai-na cho rằng : “Người ta phải
đối xử với tất cả những sinh vật
khác theo cái cách mà họ muốn được người
khác đối xử với ḿnh như thế “(Sutrakritanga, 1.11.33); Nho giáo th́ lấy
quan niệm về ren (người
quân tử) làm tư tưởng chủ đạo, cốt
yếu lấy việc nghĩa làm trọng, người
quân tử không bao giờ làm điều ǵ cho người
khác mà trái với lương tâm ḿnh. Ngạn ngữ Yoruba
(Nigeria) có câu: “Kẻ nào có ư định bắn một con
chim nhỏ bằng mũi tên nhọn trước hết phải
kinh qua điều đó để biết được
đau đớn như thế nào”
2.2.2
VÍ DỤ
(..)
2.2.3
BÀI TẬP
(..)
2.2.4
TRÍCH DẪN
(..)
2.2.4.3.6. Umberto Eco, “Khi kẻ khác có mặt”
Những ngành khoa
học nhân văn có tính thế tục[18]
nhất dạy chúng ta rằng, chính kẻ Khác, và cái nh́n của
hắn xác định chúng ta và tạo nên chúng ta. Cũng
như chúng ta không thể sống mà không ăn không ngủ,
chúng ta không thể hiểu ḿnh là ai nếu thiếu cái nh́n
và phản ứng của kẻ khác. Ngay cả những kẻ
từng giết người, hăm hiếp, cướp bóc hay
áp bức kẻ khác trong những lúc nào đó cũng sống
phần đời c̣n lại trong sự khẩn nài có
được sự công nhận, ḷng yêu thương, sự
tôn trọng và ngợi ca từ những người chung
quanh. Thậm chí, họ còn muốn
những người đã bị mình
làm nhục cũng phải thừa nhận
sự sợ hãi và tuân phục.
Thiếu sự công nhận này, một đứa trẻ mới
sinh bị bỏ lại trong rừng không trở nên người
được (hay như Tarzan dù là một con khỉ cũng
kiếm t́m kẻ Khác bằng mọi giá), và nếu tất
cả những người trong cộng đồng ta sống
đều đồng loạt không nh́n chúng ta hay đối
xử với ta như thể chúng ta chưa hề tồn
tại th́ chúng ta hóa điên hoặc chết mất.
Vậy th́ tại sao vẫn có hoặc
từng có những nền văn hoá chấp nhận chuyện
tàn sát, ăn thịt đồng loại, hoặc lăng nhục
cơ thể kẻ khác? Đơn giản chỉ v́ những
nền văn hoá đó giới hạn khái niệm "kẻ
Khác" chỉ trong phạm vi cộng đồng bộ lạc
(hay nhóm chủng tộc) và coi những "kẻ man rợ"
không phải là người; nhưng ngay cả những kẻ
tham gia thập tự chinh cũng không cảm thấy rằng
đồng bào không theo đạo của ḿnh càng đáng
được yêu thương. Quả thật là việc
nh́n nhận vai tṛ của kẻ khác, sự cần thiết
phải phải tôn trọng ở họ những yêu cầu
mà chúng ta thấy thiết yếu cho chính ḿnh là sản phẩm
của hàng ngàn năm phát triển.
[…]
Cái cảm giác (về kẻ Khác) này có
thực sự đủ mạnh để phán xét một hệ
thống đạo đức là xác định và bất
di bất dịch, là được thiết lập một
cách vững chắc như hệ thống đạo đức
của những người tin vào luân lư được mặc
khải, vào sự tồn tại của linh hồn, vào
thưởng phạt không? Tôi đă thử đặt những
nguyên lư của một hệ thống đạo đức
thế tục vào một thực tại tự nhiên […] giống
như xác thân chúng ta và cái ư tưởng rằng chúng ta biết
theo bản năng là chúng ta có một linh hồn (hoặc
cái ǵ đó tương tự vậy) chỉ qua sự có mặt
của kẻ Khác. Lúc đó dường như những
ǵ tôi đă định nghĩa như là một "hệ
thống đạo đức thế tục" lại
thực sự là hệ thống đạo đức tự
nhiên, điều mà thậm chí những người có niềm
tin tôn giáo cũng không thể phủ nhận được.
Chẳng phải bản năng tự nhiên, điều
đă mang lại một mức độ tương thích
cho sự trưởng thành và khả năng tự ư thức,
là nền tảng mang lại những đảm bảo
đầy đủ sao? Dĩ nhiên chúng ta có thể nghĩ
rằng đây là một sự khuyến khích không đầy
đủ đối với, "trong bất ḱ trường
hợp nào", những người không có niềm tin tôn
giáo có thể nói, "không ai sẽ biết đến tội
ác mà tôi đang bí mật thực thi". Nhưng lưu ư một
điều, những người không có niềm tin tôn giáo
nghĩ rằng việc họ làm chẳng có ai thấy cả
và do đó họ cũng biết rằng, chính xác là v́ lư do
này, thậm chí sẽ không có "ai đó" có thể tha
thứ. Nếu những người này biết rằng họ
đă làm những điều tệ hại th́ nỗi
cơ đơn của họ sẽ không hề dứt và
cái chết của họ sẽ vô cùng tuyệt vọng. Họ
sẽ chọn, hơn cả những kẻ có niềm tin
tôn giáo, sự rữa tội bằng việc thú nhận
trước công chúng, họ sẽ xin sự tha thứ từ
kẻ khác. Họ biết điều này, tận trong sâu thẳm
nhất của con người họ, và v́ thế họ biết
rằng họ nên tha thứ kẻ khác trước. Nếu
không th́ làm sao chúng ta có thể giải thích rằng người
không có niềm tin tôn giáo cũng biết ăn năn?
[…]
Đây là lư do tại sao tôi tin rằng,
trên những điểm căn bản, một hệ thống
đạo đức tự nhiên, được tôn trọng
v́ niềm tin sâu sắc khơi nguồn nó, có thể có cùng
nền tảng với những nguyên tắc của một
hệ thống đạo đức h́nh thành trên niềm
tin vào tính siêu việt, một hệ thống không thể
không nhận ra rằng những nguyên tắc tự nhiên
đă khắc sâu trong tâm khảm chúng ta trên cơ sở của
một kế hoạch hướng đến sự cứu
rỗi. Nếu như điều này để lại những
giới hạn không chồng lấp nhau, mà hiển nhiên là vậy,
th́ cũng chẳng khác so với những ǵ xảy ra khi những
tôn giáo khác biệt gặp nhau.
Umberto Eco,
"When the Other Comes onto the Scene", in Five Moral Pieces,
(..)
2.3.
CÓ THỂ CÓ NHỮNG THÁI ĐỘ KHÁC NHAU ĐỐI VỚI
NHỮNG NGƯỜI THUỘC VỀ MỘT TÔN GIÁO KHÁC
Cũng là điều b́nh thường
khi người ta cho rằng tôn giáo của ḿnh là hay hơn
tôn giáo của người khác. Tuy nhiên, có những thái độ
khác nhau khả dĩ đối với những người
thuộc về một tôn giáo khác.
2.3.1 KHAI
TRIỂN…
Hăy tưởng tượng có một
xă hội giả tưởng- ta gọi nó là XXX- gồm những
người chưa bao giờ tiếp xúc với các nhóm
người khác. Trong khoảng thời gian kéo dài vài thế
kỷ, xă hội XXX đă xây dựng nên một số các niềm
tin để giải thích nguồn gốc thế giới,
tại sao chúng ta đau khổ, và điều ǵ xảy
đến sau khi chết. Thêm vào đó, họ phát triển
một hệ thống các chuẩn mực đạo đức
cho biết điều ǵ là tốt đẹp điều
ǵ là xấu xa, và quy định những quy tắc hành xử
khác nhau mà tất cả các thành viên của cộng đồng
phải tuân theo. Những niềm tin trong xă hội XXX
được trao truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác dưới h́nh thức những câu chuyện kể,
những lễ nghi, luật lệ, phong tục v.v… Lẽ dĩ
nhiên, xă hội XXX rất tin tưởng vào sự tuyệt
đối đúng đắn của những niềm tin
đó, và họ duy tŕ niềm tin tưởng rằng những
chân lư này được trao truyền bởi những thần
linh mà họ thờ phụng.
Rồi một ngày kia, trên địa
bàn sinh sống của xă hội XXX, có một nhóm người
khác xuất hiện mà ta gọi là YYY. Cũng như XXX, những
người YYY này cũng đă tự tạo nên một cái
nh́n về cuộc sống, một cách h́nh dung về thần
thánh và một tập hợp những điều thực
hành khác với những điều mà những người
sống trong xă hội XXX tin tưởng. Xă hội YYY cũng
tự hỏi thế giới được tạo nên
như thế nào, tại sao chúng ta đau khổ, điều
ǵ xảy ra sau khi chết, điều ǵ tốt đẹp
điều ǵ xấu xa, nhưng họ có những câu trả
lời không giống với những câu trả lời của
xă hội XXX. Xă hội YYY cũng tôn trọng những
điều cấm và những luật lệ ứng xử,
nhưng phong tục của họ th́ khác với phong tục
của xă hội XXX. Chẳng hạn, trong xă hội YYY,
người ta có thể ăn tất cả các loại hoa
qủa ngoại trừ loại có màu đỏ (được
cho là ô uế), trong khi đó tôn giáo của xă hội XXX cho rắng
loại hoa quả duy nhất tuyết đối không
được ăn là loại có màu vàng.
Khi họ tiếp xúc lẫn nhau, những
người XXX và YYY nhận ra rằng nhiều trong số
những niềm tin mà họ đề cao không đúng trong
xă hội kia. Bằng cách so sánh hệ thống các niềm
tin với nhau, mỗi truyền thống xác định những
đặc tính cụ thể của nó và bắt đầu
ư thức đến sự tồn tại của chính nó
như là một tôn giáo.
Điều ǵ xảy ra khi những
người XXX và YYY gặp nhau và lần đầu tiên trải
nghiệm qua sự khác biệt của nhau? Ở một mức
độ nào đó, những ǵ xảy ra phụ thuộc
vào thái độ (thân thiện hay thù địch) khi nhóm này
chào đón nhóm kia: sự gặp gỡ giữa các tôn giáo
trước hết là sự gặp giữa những con
người. V́ thế, nếu XXX chào đón YYY hay người
YYY chào đón người XXX với tặng vật và dấu
hiện của t́nh hữu nghị, th́ rất có thể rằng
cảm giác về sự rộng lượng và sự tin
tưởng lẫn nhau sẽ được thiết lập
giữa hai tôn giáo. Trái lại, nếu một trong hai nhóm muốn
chinh phục hay nô dịch nhóm kia th́ rất có thể rằng
sự bất đồng, nếu không nói là thù địch
ra mặt, sẽ nổi lên giữa hai nhóm.
Có một điều hoàn toàn tự
nhiên là cả hai xă hội XXX và YYY đều cho rằng tôn
giáo của họ là hay (đúng đắn, chính đáng)
hơn tôn giáo kia. Vấn đề đối với mỗi
nhóm là: đó là tôn giáo của cha mẹ họ và v́ thế phủ
nhận chân lư tuyệt đối của tôn giáo đó đồng
nghĩa với sự phản bội lại di sản tinh
thần của tổ tiên. Tuy nhiên, niềm hănh diện chính
đáng về tôn giáo của ḿnh ở mỗi nhóm có thể
tạo nên những thái độ khác nhau về những
người theo tôn giáo kia.
Trong xă hội XXX, cũng như trong
xă hội YYY, có những người sẵn ḷng tiếp xúc
trong ḥa b́nh với nhóm kia, và có cả những người
cảm thấy bị đe dọa bởi những kẻ
xa lạ. Để t́m ra cách tốt nhất để
đối phó với những người YYY, những vị
chức sắc trong xă hội XXX tổ chức một cuộc
họp và tranh luận đă nổ ra với nhiều ư kiến
khác nhau.
“THƯỢNG
ĐẾ CỦA TÔI LÀ DUY NHẤT”
Hầu hết những người
XXX tin tưởng mạnh mẽ vào sự tuyệt đối
đúng đắn của tôn giáo họ, và không chấp nhận
rằng tôn giáo của xă hội YYY cũng có thể đúng
theo cách của nó.
Qủa thật, họ cho rằng, làm
sao mà hai tôn giáo khác nhau rành rành, có những quy định về
lối hành xử khác nhau và không thể đồng ư với
nhau ngay cả việc nên ăn thứ ǵ, lại đúng cả
hai? Làm thế nào mà Thượng Đế- hay các vị thần-
lại có thể phản ảnh một cách khác nhau đến
thế ở hai nhóm người khác nhau? Rơ ràng những
người YYY đă sai lầm, và chúng ta phải làm một
cái ǵ đó giúp họ thấy được sai lầm
đó.
“NHỮNG
NGƯỜI KIA SAI LẦM, TÔI SẼ TIÊU DIỆT HỌ”
Trong những người tin rằng
chỉ có một niềm tin duy nhất đúng đắn
(là niềm tin mà họ tuân theo) c̣n tất cả những thứ
khác là sai lầm và có tính chất sùng bái, một số tuyên
bố rằng loại trừ tôn giáo của những
người YYY là giải pháp duy nhất, ngay cả khi phải
dùng đến bạo lực. Cần thiết phải
ngăn chặn tất cả những ǵ liên quan đến
niềm tin đối nghịch kia: phá huỷ thánh tích, xóa bỏ
những biểu tượng thần thánh không đúng và
ngăn chặn những tín đồ của tôn giáo kia thực
hành niềm tin của họ. Và nếu những kẻ vô
đạo chống lại những biện pháp như vậy,
từ chối từ bỏ tôn giáo cũ và chuyển sang tin
theo tôn giáo duy nhất đúng đắn th́ cần thiết
buộc họ phải làm vậy, hoặc ngay cả giết
họ: đó là ư muốn của Thượng Đế
(hay các vị thần).
- Nhưng chúng ta có chắc đây thật
sự là ư muốn thần thánh? Một người XXX
đáp lại. Thượng Đế (hay các vị thần)
của chúng ta dạy rằng giết người là xấu
xa, và rằng chúng ta không nên đối xử với người
khác theo cái cách mà chúng ta không muốn bị đối xử
như vậy. Liệu nguyên tắc này có thể bị bỏ
qua nhân danh niềm tin tôn giáo?
- Ngoài ra, hăy tưởng tượng
là những người YYY cũng rất xác tín về sự
đúng đắn của tôn giáo họ, thế th́, họ
có thể đáp trả bạo lực bằng bạo lực.
Chúng ta có sức mạnh, và có lẽ trong một khoảng
thời gian nào đó chúng ta có thể có lợi thế.
Nhưng dần dần, những người YYY, hay con cái họ,
có thể phục thù v́ những sai lầm mà chúng ta đă
làm với họ. Phải chăng đây thực sự là
điều chúng ta muốn?
“NHỮNG
NGƯỜI KIA SAI LẦM, TÔI SẼ THUYẾT PHỤC HỌ”
- Thay v́ tiêu diệt tất cả những
người không tin theo niềm tin đúng đắn, chúng
ta cần phải giải thích cho họ tại sao họ
sai lầm, và thuyết phục họ rằng tôn giáo của
chúng ta ưu việt hơn. Hăy làm cho họ thấy rằng,
cách duy nhất để được cứu rỗi và
như thế có được niềm vui sống trong một
thế giới tốt đẹp hơn là họ phải từ
bỏ tôn giáo sai lầm của họ và theo tôn giáo đúng
đắn của chúng ta. Thượng Đế (hay các vị
thần), người ủng hộ chúng ta, sẽ hướng
dẫn chúng ta và chỉ cho ta biết làm cách nào để
chiếm được cảm t́nh của họ.
Nhiều người XXX cho rằng
đây là giải pháp khả dĩ tốt nhất bởi v́
có thể đạt được mục đích mà không sử
dụng đến bạo lực.
Nhưng một vài người khác phản
đối:
- Nếu Thượng Đế (hay
các vị thần) muốn người YYY tin theo tôn giáo của
người XXX th́ tại sao Ngài không làm cho điều này xảy
ra? Ngài hẳn phải có lư do của ḿnh, và chúng ta là ai mà
đ̣i hành động thay mặt Ngài (các ngài)? Có lẽ có một
lư do nào đó giải thích tại sao Chân Lư chỉ đến
với chúng ta mà thôi.
- Bỏ qua tất cả những
điều khác, làm sao chúng ta chắc rằng người
YYY sẽ vui vẻ cải đạo? Lỡ người
ta nói như thế này th́ sao: “Ai bảo các anh rằng tôn
giáo của các anh tốt hơn tôn giáo của chúng tôi? Chúng
tôi không nghĩ như vậy”.
“NHỮNG
NGƯỜI KIA SAI LẦM, TÔI SẼ MẶC KỆ HỌ”
- Rơ ràng là Thượng Đế (hay
các vị thần) muốn rằng chỉ chúng ta được
nhận chân lư từ Ngài. Có lẽ trong tất cả những
giống loài ngài tạo nên, Ngài dành cho chúng ta t́nh yêu đặc
biệt, và v́ thế chúng ta không phải lo lắng về
điều mà người khác tin tưởng. Tôi đề
nghị là chúng ta cứ tiếp tục theo đuổi truyền
thống của chúng ta, và mặc kệ người YYY với
tôn giáo của họ.
Một vài người thấy rằng
khi đă sống bên cạnh những người YYY th́ thật
khó mà không tiếp xúc với họ. Hoặc là họ quyết
định chia đôi lănh thổ, và như thế cho phép mỗi
nhóm tuân theo phong tục của chính ḿnh và thể hiện niềm
tin của ḿnh một cách riêng rẽ, hoặc phải t́m ra
một cách nào đó để điều ḥa mối quan hệ
giữa hai nhóm mà không dính dáng ǵ đến khía cạnh tôn
giáo.
“CHÚNG TA
ĐỀU CÓ CHUNG MỘT THƯỢNG ĐẾ”
Trong cuộc họp, có một người
trước đó vẫn im lặng lắng nghe những
người khác thảo luận bây giờ mới lên tiếng:
- Có một cái ư chung trong các đề
nghị của qúy vị, và đây chính là điều tôi muốn
nói. Theo qúy vị, người YYY sai v́ họ không tin vào cùng
những điều mà chúng ta tin tưởng. Đây là lư do
tại sao qúy vị tập trung vào những sự khác biệt
làm chia cách tôn giáo của chúng ta với tôn giáo của người
YYY, mà không đế ư đến tất cả những ǵ
mà hai tôn giáo cùng chia sẻ.
- Qúy vị không thấy rằng, có lẽ
Thượng Đế (hay các vị thần) muốn phản
ánh chính Ngài lên những nhóm người khác nhau theo những
h́nh thức hơi khác nhau tuỳ theo phong tục tập
quán của mỗi nhóm? Người mẹ đối xử
với những đứa con một cách khác nhau, dù rằng
bà ta yêu chúng như nhau, bởi v́ bà ta thấy rằng mỗi
đứa có một tính cách và thiên hướng riêng. V́ thế,
dù cho những sự biểu hiện về mặt tôn giáo rất
khác nhau, chúng có thể được xem là cùng thuộc về
một nguyên lư siêu việt đơn nhất, kết quả
là không có sự khác nhau căn bản nào giữa Thượng
Đế (hay các vị thần) của người XXX và
Thượng Đế (hay các vị thần) của
người YYY. Tất cả các tôn giáo đều là những
con đường dẫn đến cùng một mục
đích chung: Hiện Thể bất diệt chỉ có một,
nhưng con người gọi tên Người theo những
cách khác nhau.
Nhiều người XXX bị ấn
tượng bởi những lời này. Nhưng vẫn
không rơ là những kết luận ǵ có thể đựơc
rút ra từ bài diễn văn này. Nếu có cùng một
Thượng Đế th́ chúng ta nên cư xử với
người YYY như thế nào?
Vài người thấy rằng, nếu
quả đúng như vậy th́ mọi người phải
có thể tự do nhận được sự cứu rỗi
theo cái cách mà truyền thống của họ đề nghị.
Điều đó có nghĩa là tôn giáo của người
XXX chẳng phải đúng đắn ǵ hơn tôn giáo của
người YYY, điều mà chỉ một số ít
người XXX sẵn sàng chấp nhận.
Một số khác chỉ ra rằng, với
cùng một lư do (bởi v́ mọi tôn giáo đều nói về
cùng một Thượng Đế), nếu một người
XXX nào đó cảm thấy thích phong tục của người
YYY hơn phong tục truyền thống của ḿnh th́
người đó được tự do chuyển đổi
sang một tôn giáo khác với sự chấp thuận hoàn
toàn của tôn giáo gốc của ḿnh. Hoặc anh ta có thể
chọn cách tự tạo nên một sự tổng hợp
cho chính ḿnh từ hai tôn giáo, chọn từ những yếu
tố nào thích hợp với anh ta nhất.
Đến đây th́ một số
người XXX lên tiếng: Dễ ẹt, ai thuộc về
tôn giáo nào th́ có bổn phận tuân theo tôn giáo đó. Anh không
thể vừa là người XXX, vừa là người YYY.
- Tại sao không? Người phát biểu
đầu tiên đáp lại. Tôi là con của mẹ tôi và
cha tôi, và tôi kính trọng cả hai, mỗi người theo
một cách khác nhau.
- Nhưng điều ǵ xảy ra nếu
cha mẹ anh không thống nhất với nhau ở một
vài khía cạnh về cách nuôi dưỡng anh? Nếu họ
không thỏa thuận được với nhau th́ ư muốn
của một trong hai người tuỳ thuộc vào ư muốn
của người kia. Ai dám chắc là không sớm th́ muộn
anh sẽ không nhận thấy là phải vi phạm những
nguyên tắc của chúng ta để có thể tôn trọng
những nguyên tắc của người YYY?
- Tôi hiểu ư anh nói, dù vậy tôi nghĩ
rằng, nếu như ở trong t́nh huống này, tôi sẽ
cố gắng nghe theo lương tâm ḿnh.
- Theo tôi th́ c̣n có một khả
năng khác. - một thành viên khác của hội đồng
bảo. Chúng ta nên t́m một cơ sở chung cho cả hai
tôn giáo để ḥa giải và thống nhất mọi
người dưới một niềm tin duy nhất. Nếu
tất cả chúng ta có một Thượng Đế, thế
th́ không có lư do ǵ khiến ta không thể có một tôn giáo phổ
quát. Và tất cả mọi người có quyền tiếp
cận tôn giáo này như nhau.
- Một tôn giáo tự nhiên như thế
này, tôn giáo của sự khoan dung và cân bằng xă hội, có
thể quy giảm về những ư tưởng rất
căn bản: Thượng Đế (hay các vị thần)
tồn tại, Ngài đă tạo ra thế giới và ban
thưởng cho những ai sống đức hạnh.
- Nhưng ai là người cho biết
phải sống như thế nào th́ được gọi
là sống đức hạnh? Giáo luật của người
XXX hay của người YYY? Điều nguy hiểm là, khi
chú tâm vào sự giống nhau giữa hai tôn giáo, chúng ta
đánh mất nét khác biệt mà chỉ có thiện ư thôi th́
không thể xóa bỏ được. Nhiều người
XXX cảm thấy rằng cái tôn giáo tự nhiên đó đă
tồn tại, đó chính là cái tôn giáo mà họ đang theo.
Tôi nghĩ là điều này cũng đúng đối với
người YYY: khi ngồi lại và so sánh những niềm
tin của ḿnh, chúng ta khó mà đồng ư với nhau về mọi
thứ, và mỗi bên sẽ cố gắng ép người
kia chấp nhận những chân lư của chính họ, xem nó
như là những chân lư tự nhiên.
Năy giờ chúng ta nói với nhau như
thể chỉ có một Chân Lư duy nhất tồn tại, mặc
dù thừa nhận là có thể có vài tôn giáo khác nhau, mỗi
tôn giáo có chân lư riêng của ḿnh, và cảm nhận nó theo những
cách khác nhau. Nhưng điều ǵ xảy ra nếu có nhiều
Chân Lư cùng tồn tại?
“AI CÓ
THƯỢNG ĐẾ CỦA M̀NH VÀ ĐIỀU NÀY PHẢI
ĐƯỢC TÔN TRỌNG”
- Người XXX có Thượng Đế
(hay các vị thần) của ḿnh, và họ vinh danh Ngài theo
cái cách mà họ nghĩ là đúng đắn. Nhưng người
YYY cũng tôn thờ Thượng Đế (hay các vị
thần) của họ theo những quy tắc của ḿnh,
và như chúng ta biết là họ rất tin tưởng.
Điều đó không có nghĩa là Thượng Đế
(hay các vị thần) của chúng ta giống với Thượng
Đế (hay các vị thần) của họ. Và ngay cả
nếu người XXX và người YYY có cùng Thượng
Đế (hay các vị thần) th́ chúng ta cũng không thể
nào biết được là nhóm nào vinh danh Ngài tốt
hơn. V́ thế tại sao không thừa nhận rằng mỗi
người có Thượng Đế (hay các vị thần)
của ḿnh và như thế phải được tôn trọng,
dù chúng ta không có cùng niềm tin với họ?
2.3.2
VÍ DỤ
(..)
2.3.3
BÀI TẬP
(..)
2.3.4
TRÍCH DẪN
(..)
2.3.4.2. Umberto
Eco: “Trào lưu chính thống, chủ nghĩa toàn thể, chủ
nghĩa phân biệt chủng tộc và sự thiếu khoan
dung”
Trong các thuật ngữ
có tính lịch sử, “trào lưu chính thống” là nguyên tắc
chú giải văn bản cổ, liên quan đến việc
chú giải Kinh Thánh. Trào lưu chính thống phương Tây
hiện đại đă được khai sinh trong các nhóm
Tin Lành ở Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 và điểm
đặc trưng của nó là quyết định giải
thích Kinh Thánh về mặt văn tự, đặc biệt
là về những khái niệm vũ trụ học mà tính
đúng đắn của nó đă bị khoa học ngày ấy
nghi ngờ. Do đó đây là sự bác bỏ một cách
không khoan dung và thường xuyên tất cả những giải
thích có tính phúng dụ[19] và đặc biệt
là tất cả những h́nh thức giáo dục cố gắng
làm xói ṃn niềm tin vào Kinh Thánh, như đă xảy ra với
vinh quang thuộc về thuyết Darwin[20].
H́nh thức chú giải
theo nghĩa đen có tính chính thống này đă có từ
xưa rồi, và ngay từ những thế kỷ đầu
tiên của kỷ nguyên Ki Tô giáo đă có những cuộc
tranh luận giữa những người tin vào từng câu
từng chữ và những người ủng hộ một
cách chú giải linh hoạt hơn, chẳng hạn như
thánh Augustine. Nhưng trong thế giới hiện đại,
trào lưu chính thống nghiêm ngặt chỉ có thể là
đạo Tin Lành, như thế để là một người
theo trào lưu chính thống bạn phải thừa nhận
rằng chân lư được rút ra từ việc giải
thích Kinh Thánh. Thay v́ quyền năng nhà thờ là cái đảm
bảo cho sự chú giải như trong giới Công Giáo, trào
lưu chính thống Tin Lành mang một cái ǵ đó của chủ
nghĩa truyền thống. Tôi sẽ không xem xét bản chất
của trào lưu chính thống Hồi giáo và Do Thái giáo, mà
để dành nó cho các chuyên gia về lĩnh vực này.
Trào lưu chính thống
có nhất thiết là bảo thủ? Có, bảo thủ ở
khía cạnh chú giải kinh điển, nhưng không nhất
thiết bảo thủ khía cạnh chính trị. Có thể
tưởng tượng là sẽ có một giáo phái theo trào
lưu chính thống cho rằng ḿnh là người được
đặc ân sở hữu lối giải thích đúng
đắn Kinh Thánh, tuy vậy lại không theo đuổi
việc kết nạp người vào Đạo dưới
bất cứ h́nh thức nào, và kết qủa là họ
không muốn buộc người khác phải tin theo, hay
đấu tranh cho một xă hội dựa trên những niềm
tin đó.
Trái lại “chủ nghĩa
toàn thể” đề cập đến một vị thế
tôn giáo và chính trị theo đó các nguyên tắc tôn giáo phải
trở thành h́nh mẫu cho đời sống chính trị và
nguồn gốc của luật pháp quốc gia. Trong khi trào
lưu chính thống và chủ nghĩa toàn thể về
nguyên tắc mang tính bảo thủ, có một số h́nh thức
của chủ nghĩa toàn thể được xem là tiến
bộ và cách mạng. Có những phong trào theo chủ nghĩa
toàn thể Công Giáo không theo theo trào lưu chính thống đấu
tranh cho một xă hội hoàn toàn lấy cảm hứng từ
những nguyên tắc tôn giáo mà không dùng đến việc
giải thích Kinh Thánh về mặt văn tự, và có lẽ
sẽ sẵn sàng chấp nhận một thứ thần học[21] kiểu như của
Teilhard de Chardin[22].
Những biểu hiện
của nó c̣n tinh tế hơn. Thử nghĩ về hiện
tượng “phải đạo” về mặt chính trị[23] ở Hoa Kỳ.
Hiện tượng này ra đời từ ước muốn
khuyến khích sự khoan dung và sự thừa nhận tất
cả những sự khác biệt về mặt tôn giáo, chủng
tộc, và giới tính, và như thế nó đang trở nên
một h́nh thức mới của trào lưu chính thống ảnh
hưởng lên ngôn ngữ hàng ngày theo cái lối hầu
như mang tính lễ nghi, và nó thổi linh
hồn vào từng con chữ- và như thế, bạn
có thể phân biệt đối xử những người
mù miễn là bạn nhă nhặn gọi họ là “người
khiếm thị”, và trên hết bạn có thể phân biệt
đối xử những người không tuân theo những
quy tắc của sự “phải đạo” về mặt
chính trị.
Chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc th́ sao? Chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc theo kiểu của phát-xít Đức th́ quả là
toàn trị[24], nó tự phụ
là có tính khoa học, nhưng lúc đó chẳng có ǵ gọi
là chính thống trong cái học thuyết về chủng tộc
đó cả. Một thứ chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc phi khoa học kiểu như của Liên Đoàn
Phương Bắc[25] của Ư không có
cùng cội rễ văn hóa của chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc giả khoa học[26] (trong thực tế
nó chẳng có cội rễ văn hóa nào), và v́ thế nó chỉ
là một thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
C̣n sự thiếu khoan dung? Liệu có
thể quy giảm nó về những sự khác biệt này
và mối quan hệ giữa trào lưu chính thống, chủ
nghĩa toàn thể và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc?
Đă có những h́nh thức không phân biệt chủng tộc
của sự thiếu khoan dung (chẳng hạn như việc
bức hại những người dị giáo hay việc
không dung thứ những người bất đồng ư
kiến trong những chính thể độc tài). Sự thiếu
khoan dung là một cái ǵ đó có nguồn gốc sâu xa
hơn, là nền tảng gốc rễ của những hiện
tượng tôi đă xem xét ở đây.
Trào lưu chính thống, chủ nghĩa
toàn thể và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc giả
khoa học là những vị thế lư thuyết giả
định trước một học thuyết. [Tuy nhiên,]
sự thiếu khoan dung lại xuất hiện sớm
hơn bất cứ học thuyết nào.
Umberto Eco:
"Fundamentalism, Integralism, Racism and Intolerance" (bản tiếng Anh của Alastair McEwen)
Bài viết (tham khảo) liên quan
đến tôn giáo
(Chúng tôi không chịu trách nhiệm
nội dung các trang bên ngoài)
1. Tôn giáo và tâm lư xă hội
(Tâm Thiện)
2. Chính trị và tôn giáo
(Nhất Hạnh)
3. Công giáo và chính trị
(tài liệu của
4. Thánh chiến, Lí trí và
cuồng nhiệt (Umberto Eco)
5. Tôn giáo của người
Chăm ở B́nh Thuận (Phan Quốc Anh)
6. Những đôi mắt của minh triết (Eyes of Wisdom, Ralf Tooten; tập ảnh chân dung một số tu sĩ của nhiều tôn giáo khác trên thế giới)
Tôn Giáo
& Tín Ngưỡng ở Việt Nam
Ngoài sự
thờ phượng ông bà và tổ tiên, tín ngưỡng
trong dân gian Việt Nam c̣n có một số tôn giáo lớn
như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài và Hoà
Hảo...
Phật
giáo:
Phật giáo được du nhập vào Việt
Cuối thế kỷ thứ XIV, Phật
giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư
tưởng của Phật giáo c̣n ảnh hưởng lâu
dài trong đời sống xă hội và sinh hoạt của
Việt
Công giáo: được du nhập
vào Việt Nam từ thế kỷ XVII, nơi tập trung
nhiều tín đồ Công giáo ở Việt Nam hiện nay
là vùng Bùi Chu - Phát Diệm (tỉnh Ninh B́nh) và vùng Hố Nai -
Biên Hoà (tỉnh Đồng Nai). Số lượng tín đồ
theo Công giáo chiếm khoảng 10% dân số.
Tin Lành được du nhập
vào Việt
Hồi
giáo:
tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người
Chàm (Chăm) ở miền trung Trung bộ, có khoảng 50
ngh́n người.
Cao Đài: xuất hiện ở
Việt
Hoà Hảo: xuất hiện ở
Việt
Tín ngưỡng
dân gian thờ Mẫu: Trong đời sống tâm linh của
người Việt
Thờ Mẫu có nguồn gốc của
tục thờ thần thời cổ đại, thờ
các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này Mẫu
được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu
luôn được đặt ở vị trí trang trọng
nhất. Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc.
Vào đến miền Nam, "đạo" này đă hoà
nhập "Mẫu"với các nữ thần trong tín
ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na
(Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh).
Trong thực tế việc thờ cúng của
"đạo" Mẫu có sự hội nhập các h́nh
thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng
dân gian được coi trọng nên nhiều đền,
phủ đă và đang được phục hồi và hoạt
động sôi nổi.
(Nguồn: http://www.vietnamtourism.com/
)
Về
tên gọi các tôn giáo thờ Thiên Chúa trong tiếng Việt
"[…] nhiều người, vẫn
là trên sách vở, cứ tiếp tục dùng chữ Đạo
Cơ-đốc, Đạo Gia-tô để chỉ Đạo
(Chúa) Ki-tô mặc dù những tên gọi đó không c̣n quen thuộc
với nhân dân nữa. Từ Cơ-đốc là cách đọc
chữ Kitô theo Hán văn cũng như chữ Gia-tô là cách
đọc chữ Giêsu theo tiếng Hán. Ngày nay ta có tiếng
Kitô giáo hay đạo Kitô rơ ràng và quen thuộc hơn. Ngoài
ra, hiện nay người ta cũng quen gọi Kitô giáo và
ngay cả Công giáo là Thiên Chúa giáo. Gọi như thế không
sai nhưng thiếu chính xác, v́ Đạo Thiên Chúa gồm ba nhánh
khác nhau : Đạo Do-thái, Đạo Kitô và Đạo Hồi. Kitô
giáo là tên gọi chung tất
cả những người tin theo Đức Kitô (hay Đức
Giêsu), bao gồm Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành và Anh giáo. Phân tích sự việc th́ hiển nhiên
như thế, nhưng không phải ai cũng chấp nhận
trong thực tế; một số người vẫn dùng
tên gọi Chính thống giáo hay Tin lành cách b́nh thường,
nhưng dường như lại tránh né dùng chữ Công
giáo chắc v́ họ hiểu từ "công giáo" một
cách tiêu cực như thế nào đó, mặc dù theo nguyên ngữ,
từ "công giáo" chỉ có nghĩa là đạo chung,
không thuộc riêng về một quốc gia, dân tộc nào cả.[…]"
(LM Nguyễn Hồng Giáo, Nguồn:
http://www.nguoitinhuu.com/tamlinh/HongGia...dictionary.html)
Một số trang web tôn giáo bằng
tiếng Việt
(Chúng tôi không chịu trách nhiệm
nội dung các trang bên ngoài)
1. Hồi Giáo (đạo
Hồi, đạo Islam; Islamism)
- Islam và
Đời Sống: http://www.haidang.org/
2. Ki Tô Giáo (đạo
Cơ Đốc, đạo Gia-Tô; Christianity)
- Việt Catholic: http://vietcatholic.com/news/index.htm
(Công Giáo, Catholicism)
- Việt Christian: http://www.vietchristian.net/
(Tin Lành, Protestantism)
- Kinh Thánh, Giáo Lư, Thần Học...
: http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/thanhoc/mucluc.htm
3. Phật Giáo (đạo
Phật, đạo Bụt; Buddhism)
- Thư Viện Hoa Sen: http://www.thuvienhoasen.org/
(và các link đến các trang khác)
- Tu Viện
Quảng Đức: http://www.quangduc.com/Mucluctongquat.html
4. Phật
Giáo Ḥa Hảo (đạo Ḥa Hảo; Hoa Hao Buddhism)
- Lịch
Sử, Giáo Lư....: http://www.hoahao.org/
5. Cao
Đài Đại Đạo (đạo Cao Đài;
Caodaism)
- Lịch
Sử, Phương Pháp Tu Hành... : http://www.caodai.org/vietnam/vietnamese.htm
6. Thông Thiên Học
(Théosophie)
- Hội Thông Thiên Học: http://www.thongthienhoc.com/index.html
Mặc dù trẻ
có thể sớm trải qua những điều mà chúng tôi
sắp bàn đến trong chương này, nhưng đây cũng
là một đề tài khó v́ có những lí do chính đáng cho
hai thái độ khác nhau mà chúng tôi sắp tŕnh bày. Chúng tôi gọi
đó là thái độ “định cư” và “du cư”, hay
nói cách khác, đó là "yêu nhà của ḿnh" và "sống
ở nhà kẻ khác" (hay "chào đón những ai đến
nhà ḿnh"). Ư là để khuyến khích giới trẻ hiểu
rơ những khía cạnh tích cực của tất cả các
quan điểm và dẫn dắt chúng thảo luận những
hạn chế của từng quan điểm. Do đó, với
một đề tài có vẻ giản đơn như thế
chúng ta phải truyền đạt ư này sao cho đối với
một số vấn đề sẽ không có một câu trả
lời duy nhất mà là nhiều câu trả lời, tuỳ
thuộc vào quan điểm, vào t́nh huống cụ thể,
vân vân.
Cuối phần
này chúng tôi đưa ra một số ư tưởng thảo
luận nhằm ḥa giải những mâu thuẫn bề ngoài
và chỉ ra cho thấy làm thế nào mà cái nhu cầu về
sự bảo vệ và sự riêng tư (mà các cộng đồng
định cư nhấn mạnh) và nỗ lực khám phá
(nhất là đối với những người sống
du cư) thực ra chỉ là hai khía cạnh của tính cách
con người, chúng bao hàm lẫn nhau, và do đó mỗi
chúng ta đều có một ít “chất” định cư, một
ít “chất” du cư (ở một mức độ nào
đó tùy theo văn hóa và tính cách của từng người)
Sau khi thiết lập
những t́ên đề này chúng tôi sang phần thứ hai nói
về vấn đề biên giới, ở đó trẻ em
sẽ được tham gia xem xét những biên giới lănh
thổ của khu vực chúng ở.
1. Lănh
thổ
Mọi
người ai cũng cần một nơi an toàn để
ẩn nấp lúc thời tiết xấu hay để tránh
những hiểm nguy từ thế giới bên ngoài: Chúng
ta là những động vật có lănh thổ.
Mọi
người ai cũng cảm thấy bị cuốn hút về
phía những vùng đất chưa biết: Chúng ta là những
động vật du cư.
2. Biên
giới
Nhiều người
sống ở miền quê nơi có đất đai
được ngăn chia thành ruộng vườn
được giới hạn bởi những biên giới
như rào dậu, kẽm gai, hay chỉ là vài viên đá xếp
lại trên nền để đánh dấu phạm vi phần
ruộng vườn nhà ḿnh.
3.1.1
Mọi người
ai cũng cần một nơi an toàn để ẩn nấp
lúc thời tiết xấu hay để tránh những hiểm
nguy từ thế giới bên ngoài. Nơi đó chúng ta có thể nghỉ
ngơi mà chẳng hề phải lo sợ bị ai tấn
công, chúng ta có thể sẻ chia những kinh nghiệm hàng
ngày với những thành viên khác trong gia đ́nh, nơi ta cảm
thấy ḿnh thuộc về một nhóm có chung tiếng nói,
có cùng lịch sử và cùng một loạt những dự
kiến cho tương lai.
Bản năng
sinh tồn thôi thúc con người t́m nơi trú ẩn ngay cả
trong ngôi nhà ḿnh, và bảo vệ nơi quen thuộc này khỏi
những người lạ muốn xâm nhập.
Chúng ta là những động vật
du cư
Mọi người
ai cũng đều cảm thấy bị cuốn hút về
phía ngoài lănh thổ ḿnh đă biết. Tiếng gọi của một nơi
xa xôi, chưa biết và đầy quyến rũ, thúc dục
chúng ta rời nguyên quán của ḿnh hướng đến
những nơi có thể khá gần hay rất xa.
Bản
năng khám phá cũng quan trọng như bản năng sinh
tồn, v́ nó làm cho con người quyết định rời
nơi an toàn của ḿnh để đi khám phá bản chất
của môi trường bên ngoài, cùng với những tài
nguyên nó mang lại và những điều để học
hỏi.
3.1.2 KHAI TRIỂN
Việc gắn bó
với không gian của ḿnh, với nguyên quán, với môi
trường sống của ḿnh, nghĩa là lănh thổ của
ḿnh, được gọi là tính có lănh thổ (lănh thổ tính).
Đó là một hiện tượng tự nhiên, động
vật nào cũng có, liên quan trước hết và trên hết
đến việc bảo vệ không gian riêng của ḿnh khỏi
sự xâm phạm của người lạ. Nếu chúng ta
từ từ tiến lại gần một con mèo hoang,
đến một khoảng cách nào đó th́ chúng ta sẽ thấy
rằng con mèo bỗng nhiên bỏ chạy. Điều
đó giống như là chúng ta đă bước qua biên giới
vô h́nh vào nơi mà con mèo coi là không gian riêng của nó, và sự
trốn chạy đó nhằm tái thiết lập một
"khoảng cách an toàn". Nếu lúc đó chúng ta ngăn
cản không cho con mèo bỏ chạy, và nếu chúng ta tiếp
tục tiến lại gần nó hơn th́ lúc đó có thể,
v́ sợ hăi, nó sẽ biểu hiện những dấu hiệu
nổi giận như xù lông, cong lưng lên, gậm gừ,
vân vân, ḥng đuổi chúng ta đi.
Những
nhà phong tục học chỉ ra rằng nhiều loài chim và
những động vật có vú cũng phản ứng giống
như vậy, có kẻ thù là các sinh vật cùng loài hay khác
loài. Thực ra không gian riêng không chỉ là một rào chắn
chống kẻ lạ xâm nhập mà đối với nhiều
loài vật đó c̣n là một nơi khiến những thành
viên khác trong cùng chủng loại thôi không tiến đến
gần quá mức, do đó giúp tránh những ảnh hưởng
của t́nh trạng sinh sống quá đông đúc (nếu
dân cư quá đông th́ sẽ không có đủ thức
ăn để sống, các cá thể sẽ quấy rầy
nhau, bệnh tật lan rộng, vân vân). Kết quả là những
động vật này có xu hướng bỏ đi hoặc
tỏ thái độ thù hằn ngay cả khi không gian riêng của
chúng bị xâm chiếm bởi đồng loại.
Con
người cũng là những động vật có lănh thổ.
Nếu người lạ tiến đến rất gần
chúng ta, phả hơi thở vào mặt chúng ta hoặc giẫm
lên chân chúng ta th́ chúng ta cảm thấy thật phiền hà
v́ "sự gần gũi" đó, và lúc đó chúng ta hầu
như cũng sẽ có những biểu hiện giống
như những loài vật như là nhe răng, bỏ chạy.
Thông thường chúng ta giới hạn ḿnh bằng cách
bước lui và giữ khoảng cách. Nếu không gian c̣n lại
quá nhỏ, giống như khi chúng ta thấy ḿnh đang ở
trong thang máy với người lạ th́ chúng ta thường
cố gắng xử sự giống như thể không có
người lạ kia ở đó, chẳng hạn quay
đi hướng khác, hoặc nh́n vào khoảng không. Như
vậy chúng ta cũng bảo vệ không gian riêng của
ḿnh, mặc dù chúng ta thể hiện khác với loài vật.
Trong thế giới
động vật một vài sinh vật sống riêng lẻ,
như một số loài chim, hổ, thằn lằn hay rắn
độc. Những loài khác th́ sống theo bầy đàn
như sư tử, ngựa vằn, chó sói, cá trích, và rất
nhiều loài chim khác. Chúng sống như vậy v́ cuộc sống
bầy đàn giúp các cá thể tương trợ nhau và kiếm
thức ăn cùng nhau, đồng thời cũng làm cho
chúng có thể bảo vệ ḿnh khỏi kẻ thù mạnh
hơn. Khi chúng gặp đồng loại chúng thường
cố gắng t́m hiểu nhau, và nếu được th́
kết bạn với nhau. Để làm điều này chúng
thường trao đổi tín hiệu cho nhau, và v́ chúng
không biết nói nên chúng vẫy đuôi, hoặc ngửi nhau
để biết mùi kẻ đối diện có đáng
tin cậy không, hoặc chúng phát ra âm thanh và đôi khi c̣n liếm
nhau. Nếu qua mùi và những dấu hiệu khác mà chúng có thể
có được sự tin cậy từ kẻ khác th́ lúc
đó chúng sẽ đồng ư sống cùng nhau, cư xử
với nhau như thể chúng có thể tṛ chuyện cùng
nhau, và đôi khi chơi giỡn với nhau.
Điều này giống
như khi hai đứa trẻ gặp nhau. Chúng tiến lại
gần nhau, tự hỏi "Bạn là ai?" hay hỏi
"Bạn có muốn chơi với tôi không?", hoặc
một đứa sẽ đưa kẹo hay đồ
chơi cho đứa kia. Thực vậy, con người cũng
cần cảm giác về sự có mặt của đồng
loại và kiếm t́m những cơ hội tiếp xúc với
người khác. Hàng ngày chúng ta đều có những tiếp
xúc như vậy, và khi chúng ta ở một ḿnh quá lâu chúng ta
sẽ đâm chán và sẽ đi kiếm ai đó. Đôi khi
chúng ta đi ra đường hoặc tới quán rượu
chỉ để hàn huyên. Đôi khi chúng ta gọi điện
cho ai đó ngay cả khi chúng ta chẳng có ǵ để nói
mà chỉ cốt để nghe giọng nói của người
kia (hoặc để bắt người kia nghe ḿnh).
Tiếp xúc với
kẻ khác có thể xảy ra qua nhiều cách khác nhau:
đôi khi qua ánh mắt, hoặc câu chào, và rồi chúng ta bắt
đầu chuyện tṛ hoặc chơi giỡn cùng nhau. Thậm
chí đánh nhau cũng là một h́nh thức tiếp xúc. Khi chúng
ta thực hiện một tiếp xúc có nghĩa là chúng ta chấp
nhận cho kẻ khác bước vào không gian riêng của
chúng ta, và người kia cũng như vậy.
Trẻ sơ sinh
chưa biết cảm nhận không gian riêng của chúng và
chưa thấy được biên giới giữa chúng với
người khác. Trong những tháng đầu đời,
môi trường bên ngoài hiện ra trước mắt trẻ
như là một điều ǵ đó thật rối rắm:
trẻ vẫn chưa biết cơ thể ḿnh và chưa thể
phân biệt nó với cơ thể người khác, nó cũng
chưa nhận ra được sự vật và con người
xung quanh là những thứ khác với ḿnh. Đối với
trẻ sơ sinh th́ tham dự vào thế giới nghĩa là
những khi ở bên mẹ, khi mẹ cho bú và vuốt ve âu yếm
chúng, và không gian riêng của mẹ cũng chính là của
chúng. Nhưng giữa tháng thứ hai và tháng thứ sáu trẻ
bắt đầu chú ư đến một sự thật là
mẹ và ḿnh khác nhau. Và từ đó bắt đầu trở
nên ư thức về ranh giới lạ lẫm giữa chúng
và người khác. Chính v́ điều này mà trẻ sẽ
khóc nếu mẹ (hoặc người chăm sóc trẻ)
đi khỏi, khi đó trẻ nh́n theo mẹ, gọi mẹ,
và khi không c̣n thấy mẹ nữa trẻ sẽ biết buồn.
Nhưng cũng nhờ có kinh nghiệm “chia ly” này vào giai
đoạn từ tháng thứ sáu đến tháng thứ
mười tám trẻ bắt đầu nhận ra
được rằng ḿnh là một cá thể riêng biệt
với những người khác.
Và do đó trẻ bắt đầu
dần nhận ra không gian riêng của chúng. Trái với khi
chúng c̣n nhỏ th́ ai cũng có thể đến gần
chúng được, càng về sau th́ chỉ có một vài
người gần gũi với trẻ mới bước
qua "giới hạn vô h́nh của sự gần gũi"
mà không làm trẻ lo sợ hay bất an. Khoảng lên ba, trẻ
bắt đầu biết giữ khoảng cách giữa ḿnh
với những người lớn không phải là thành viên
thân thiết trong gia đ́nh hay bạn bè (trong khi đó đối
với bạn bè cùng trang lứa th́ lại không tồn tại
khoảng cách như vậy). Cũng trong thời ḱ này, trẻ
bắt đầu phân biệt được khoảng cách
phải giữ giữa bé trai và bé gái, và chỉ qua cách này trẻ
mới ư thức được giới tính của ḿnh
(đó là, ḿnh là con trai hay con gái). Khi nhận ra không gian riêng
của ḿnh, trẻ đồng thời cũng có ư niệm
về tài sản riêng. Trong không gian riêng của ḿnh, trẻ
nhận ra một số đồ vật là của chúng, và
chúng biết bảo vệ những đồ vật đó
(chúng nói "nó là của tôi" với tất cả những
thứ mà chúng thích). Ư niệm về tài sản này là điều
tự nhiên, và chỉ qua dạy dỗ chúng ta mới biết
được rằng chúng ta không thể có tất cả
những ǵ chúng ta muốn dù cho những thứ đó thuộc
về một ai đó, có nhiều thứ chúng ta phải san
sẻ. Đối với trẻ, học cách tôn trọng
tài sản của người khác có nghĩa là trở thành
những động vật xă hội, người biết
chấp nhận quy luật để có thể sống
trong một cộng đồng, dù là trong gia đ́nh, khu phố,
trường học, hay thôn xóm.
Trẻ hiểu rằng
trong một số t́nh huống th́ nên giữ khoảng cách với
người này nhiều hơn với người kia (ba mẹ
dạy rằng không được tin người lạ,
v́ họ có thể là người xấu), nhưng cũng
giống như chúng muốn bảo vệ không gian riêng và
tài sản của ḿnh không cho người khác xâm phạm,
chúng cũng phải biết tôn trọng không gian và tài sản
của người khác.
Trẻ em bắt
đầu khám phá như thế nào?
Trẻ sơ sinh
trải qua hầu hết thời gian trong một trạng
thái giữa ngủ và thức; thức khi đói và khi có những
nhu cầu khác, và trở về với giấc ngủ ngay
khi nhu cầu được thỏa măn. Nhưng khoảng
tháng thứ sáu chúng bắt đầu khám phá thế giới
xung quanh. Những khám phá đầu tiên là từ cơ thể
người mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ;
trẻ lôi tóc, mũi, tai, bỏ tay vạ miệng mẹ, quan
sát và quờ quạng tay chân khi kề bên. Một khi đă
thấy quen thuộc với khuôn mặt mẹ, và nhận
ra rằng đó là một thực thể khác biệt với
chúng, trẻ, ở tháng thứ tám, có thể, vừa hiếu
ḱ và sợ sệt, quay sang khám phá khuôn mặt người
khác, với những đường nét có thể đối
chiếu với đường nét trên khuôn mặt mẹ.
Khi trẻ dần
nắm bắt được khái niệm chuyển động
và tự ư thức, chúng ngày càng muốn khám phá thế giới.
Ban đầu, chúng chỉ có thể nắm, ngậm, sờ
mó bất cứ thứ ǵ xuất hiện trong tầm với.
Về sau, bằng thị giác và thính giác, trẻ quan sát những
vật ở xa hơn. Đến khi biết ḅ, trẻ bắt
đầu rời xa mẹ trong khoảng thời gian ngắn;
đôi khi quá say sưa chơi đùa đến nỗi
dường như quên mất sự có mặt của mẹ,
nhưng rồi khi nỗi lo sợ xa cách mẹ bất
ưng chiếm lấy trẻ chúng lại trở về với
mẹ. Lúc này như thế những chuyến đi về
nho nhỏ giữa mẹ và thế giới xung quanh.
Do đó, theo một
nghĩa nào đó, trẻ đă tạo ra một "bản
đồ" thế giới của chúng, học cách nhận
biết và thấy trước ngày càng nhiều t́nh huống,
đồng thời học cách hiểu rơ hơn những ǵ
đă biết và có thể thực hiện. Chẳng hạn,
trẻ học được rằng nếu chúng nắm lấy
một đồ vật dễ vỡ rồi thả ra
đồ vật đó sẽ rơi xuống đất và
vỡ; nhưng qua hành động đó chúng cũng có thể
nhận ra những điều có thể làm bằng đôi
tay của ḿnh. Vào cuối năm đầu đời, trẻ
học đi, và lúc đó một chân trời mới mở
ra trước mắt chúng. Khi đứng được bằng
hai chân của ḿnh, trẻ nh́n thế giới "từ
trên cao" và nhận ra thế giới rơ hơn. Chơi
đùa mang lại những kinh nghiệm mới (trẻ học
được rằng trái bóng biết nẩy lên, một số
vật lăn được, những vật khác phát ra tiếng
kêu khi lắc, vân vân). Cũng vào lúc đó trẻ học nói,
và dần dần có thể chia sẻ những kinh nghiệm
của ḿnh với người khác.
Nếu trẻ
nh́n thấy một vật nó thích hoặc có ấn tượng
chúng bắt đầu nói rằng "cái này to", "cái
kia đẹp". Nếu chúng thấy một đồ vật
hoặc một con vật chúng đă biết, chúng sẽ chỉ
tay vào và lặp đi lặp lại tên đồ vật hoặc
con vật đó, và chúng c̣n muốn nhắc đến cái
tên đó nhiều lần cho người khác để bày tỏ
ấn tượng hoặc những phát hiện mới.
Để chúng tỏ cho kẻ khác biết sự có mặt của ḿnh trong phạm vi lănh thổ và khẳng định đó là lănh thổ của chúng đối với những ai có thể xâm phạm, nhiều loài động vật đánh dấu lănh thổ của ḿnh bằng những cách khác nhau. Chẳng hạn chúng có thể phát ra những tín hiệu âm thanh (giống như tiếng chim hót hoặc tiếng sói hú), hoặc những tín hiệu h́nh ảnh (chẳng hạn những vết cào trên thân cây) hoặc tín hiệu mùi (chẳng hạn phát mùi qua nước bọt hoặc nước tiểu). Nếu một kẻ lạ không màng đến nh̗