ACCEPTING DIVERSITY: AN INTERACTIVE HANDBOOK IN PROGRESS

* * *

CHẤP NHẬN SỰ ĐA DẠNG

MỘT CẨM NANG CÓ TÍNH TƯƠNG TÁC VÀ CHƯA HOÀN TẤT

 

Nguyễn Thị Hoàng An, Phạm Hồng AnhHoàng Đại Dương dịch

dựa trên bản tiếng Anh của Académie Universelle des Cultures[1]

Biên tập và hiệu đính: Hoàng Đại Dương[2]

Cần phải có sự đồng ư của nhóm biên dịch trước khi sử dụng (bao gồm cả việc đăng lại trên một diễn đàn hay trang web khác) một phần hay toàn bộ nội dung của bản dịch này.

 

 

Lời giới thiệu -Umberto Eco

1. KHÁC NHAU MÀ VẪN B̀NH ĐẲNG!

1.1 Thế gian này có sự khác biệt!

1.2 Chúng ta có thể không thích một số khác biệt.

1.3 Khác nhau cũng tốt!

1.4 Chấp nhận sự khác biệt là cách tiện lợi cho mọi người.

2. TÔN GIÁO

Ư tưởng tiền căn bản -Umberto Eco

2.1. Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới.

2.2. Một số người định nghĩa con người là động vật tôn giáo.

2.3. Có thể có những thái độ khác nhau đối với những người thuộc về một tôn giáo khác.

3. ĐÂY LÀ CHỖ CỦA TÔI

3.1 Lănh thổ.

3.2 Biên giới.

 

 

Lời giới thiệu

Umberto Eco

Mục đích của cuốn sách này là ǵ?

Đây là cẩm nang dành cho những ai có ư định giáo dục giới trẻ chấp nhận sự đa dạng. Họ có thể là giáo viên đứng lớp hoặc là những người muốn tổ chức một khóa học về sự đa dạng. Chúng tôi không giới hạn độ tuổi các em tham gia những khoá học như thế này. Người dạy sẽ phải quyết định cho phù hợp, tuỳ vào nơi chốn cũng như các t́nh huống cụ thể.

Tại sao lại là “chưa hoàn tất”?

Theo hai nghĩa. Trước hết, những ǵ bạn đang đọc ở đây là những chương đầu của cuốn cẩm nang. Các chương khác đang tiếp tục được viết (xem mục lục). Dựa trên những phản hồi mà chúng tôi nhận được, những chương kế tiếp có lẽ sẽ được thay đổi tí chút, và một số chủ đề khác có thể được thêm vào. Thứ nữa, những chương này cũng chưa hoàn tất, v́ rằng nó sẽ được bổ sung dần dần khi bạn gởi cho chúng tôi những gợi ư cũng như kể cho chúng tôi nghe những kinh nghiệm của bạn.

Tại sao lại là “tương tác”?

Nhiệm vụ của các biên tập viên chỉ là đưa ra những gợi ư, những đề nghị và các ví dụ. Bản thân các nhà giáo dục sẽ phải nghĩ ra giải pháp cho chính họ dựa trên t́nh huống mà họ điều hành. Nếu những giải pháp này tỏ ra thú vị và cho kết quả tốt th́ xin vui ḷng kể cho chúng tôi hay. Bằng cách này, nội dung của mỗi chương sẽ được tăng cường hàng ngày khi chúng tôi bổ sung vào nó các đề nghị của bạn (hoặc tổng hợp lại nếu như qúa dài hay có nhiều đề nghị giống nhau).

Tại sao chúng tôi chỉ đưa ra các ví dụ?

Bởi v́ cẩm nang này hướng đến các nhà giáo dục trên toàn thế giới. Một vấn đế cụ thể hay một kinh nghiệm giáo dục có thể phù hợp cho một đứa trẻ ở Phi châu nhưng có thể không áp dụng được cho một trẻ em ở châu Á. Họ sẽ phải sửa đổi các ví dụ của chúng tôi cho phù hợp với bối cảnh văn hóa của họ. Tuy vậy, biết được kinh nghiệm của người khác th́ cũng thật thú vị. Biết đâu một người ở quốc gia này có thể có được những gợi ư hữu ích sau khi đọc được kinh nghiệm của một người ở quốc gia khác.

Mục lục dự tính

1. Khác nhau mà vẫn b́nh đẳng!

2. Tôn giáo

3. Đây là chỗ của tôi!

4. Nam giới và nữ giới

5. Chướng ngại

6. Đa dạng mà ḥa hợp

7. Quy tắc vàng và kẻ phá đám

8. Chủ nghĩa khủng bố

Các chương được cấu trúc như thế nào?

Mỗi chương có các phần sau:

- Những ư tưởng cơ bản: diễn tả đơn giản dễ hiểu các khái niệm cơ bản cần truyền đạt.

- Phần khai triển: triển khai các khái niệm cơ bản bằng các lư luận phức tạp hơn, dẫn người đọc đến với các trích dẫn nguyên gốc khi cần thiết để giúp có một cái nh́n sâu sắc hơn về các lư lẽ vừa tŕnh bày. Phần này có lẽ quá trừu tượng và khó hiểu đối với các em c̣n nhỏ. V́ thế người dạy có thể chỉ sử dụng chúng để hướng dẫn các cuộc tranh luận và không nhất thiết yêu cầu các em phải đọc các phân tích chuyên sâu. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng, những phần như thế này rất quan trọng đối với các nhà giáo dục cũng như đối với các học sinh lớn tuổi, theo đó nó giúp tạo nên cấu trúc lư luận dựa trên cơ sở các ư tưởng cơ bản cũng như giúp tạo sự hứng khởi trong các cuộc thảo luận nhóm.

- Các ví dụ minh họa nảy sinh từ các ư tưởng cơ bản. Chúng đủ phổ quát và có tính quốc tế để có thể sử dụng trong các bối cảnh văn hóa khác nhau. Người dạy cũng có thể bổ sung thêm tư liệu thực tế trong những t́nh huống cụ thể.

- Phần bài tập: mục đích là để giúp các em tham gia vào các hoạt động nhóm và các tṛ chơi giúp củng cố sự cảm thụ các ư tưởng cơ bản bằng cách mang đến cho chúng một h́nh thức cụ thể, dễ h́nh dung. V́ rằng cẩm nang này chưa hoàn tất, chúng tôi kêu gọi mọi người gởi cho chúng tôi các báo cáo về các kinh nghiệm giáo dục đă thử qua và đă được kiểm tra (đây là chức năng cơ bản của phần liên lạc) để sau đó chúng tôi có thể quyết định xem có đưa chúng vào phần này hay không.

- Phần trích dẫn cung cấp các trích đoạn dài ngắn khác nhau có vai tṛ tăng cường hay củng cố sự cảm thụ về các phần trước đó. Chúng bao gồm các trích đoạn có tính triết lư, các giai thoại và chuyện kể, các báo cáo nghiên cứu v.v…

- Cuối cùng, phần liên lạc cho phép người dạy, cũng như chính các em đang học, gởi phản hồi đến các biên tập viên, bằng các nhận xét, các ví dụ cụ thể, các bài tập mà ư nghĩa của nó đă được chứng minh. Một phần thông tin sẽ được đưa vào các mục khác nhau.

Làm thế nào để tham gia?

Như chúng tôi đă nói, bằng việc chia sẻ những ư tưởng và kiểm điểm kinh nghiệm cá nhân của bạn. Bạn cũng có thể gợi ư thêm các đoạn trích dẫn.

Đừng ngại nếu cảm thấy những kinh nghiệm, hay những đoạn trích dẫn mà bạn đề nghị có thể chỉ thích hợp cho những trẻ em ở một nơi nào đó, nói một thứ tiếng nói nào đó hay thuộc về một tôn giáo nào đó. Trước hết, hăy để cho người khác xem kinh nghiệm của bạn có là nguồn cảm hứng khiến họ nghĩ ra các giải pháp phù hợp với những hoàn cảnh của họ hay không. Hơn nữa, nếu chúng tôi nhận được nhiều gợi ư phù hợp cho trẻ em ở một nơi nào đó, thuộc về một tôn giáo nào đó, chúng tôi sẽ mở một số mục nhỏ (chẳng hạn, mục nhỏ chứa các bài viết dành cho các trẻ em Hồi giáo v.v…)

Bạn có thể liên hệ với ai?[3]

Hai biên tập viên của cẩm nang này là Valentina (chịu trách nhiệm bản tiếng Anh và tiếng Ư) và Myriam (chịu trách nhiệm bản tiếng Pháp). Họ sẽ giữ liên lạc với những ai trong số các bạn gởi thư đến cho chúng tôi. Ngoài ra, nếu nh́n vào trang nhà của Académie Universelle des Cultures bạn sẽ thấy thành viên của Viện là các nhà văn, nghệ sĩ và khoa học gia trên toàn thế giới. Nếu bạn muốn biết ư kiến, xin gợi ư hay lời khuyên từ bất kỳ ai trong số các vị này, xin cứ viết thư cho chúng tôi, Valentina và Myriam sẽ chuyển yêu cầu của bạn đến người mà bạn muốn.

1. KHÁC NHAU MÀ VẪN B̀NH ĐẲNG!

NHỮNG Ư TƯỞNG CƠ BẢN

1.1 Thế gian này có sự khác biệt!

1.2 Chúng ta có thể không thích một số khác biệt

1.3 Khác nhau cũng tốt!

1.4 Chấp nhận sự khác biệt là cách tiện lợi cho mọi người

1.1 THẾ GIAN NÀY CÓ SỰ KHÁC BIỆT

Chúng ta không trở nên b́nh đẳng cho dù có phủ nhận sự khác biệt. Sự khác biệt vẫn luôn tồn tại và cần được nh́n nhận.

Con người là những cá thể độc lập, không ai giống ai. V́ vậy tồn tại những sự khác biệt là điều hiển nhiên. Một số khác biệt có được là nhờ việc thừa hưởng những yếu tố di truyền, chẳng hạn như màu da, màu mắt, tóc, h́nh dáng cơ thể, đặc điểm khuôn mặt v.v… V́ vậy mỗi người đều có những đặc điểm nhân cách riêng, một phần được quyết định bởi môi trường sống, một phần nhờ vào sự giáo dục.

Cuối cùng, mỗi chúng ta đều thuộc về một nền văn hóa nhất định, v́ thế chúng ta có bản sắc văn hóa.

1.1.1 KHAI TRIỂN…

1.1.1.1 Ai cũng thuộc về một nền văn hóa nào đó

Văn hoá được hiểu là cách mà các cá nhân trong một cộng đồng nhất định sống và suy nghĩ.

Để hiểu các khái niệm “sự khác biệt” và “bản sắc” bạn sẽ phải thường xuyên nhờ đến khái niệm văn hóa. Ở đây chúng tôi sử dụng khái niệm văn hóa theo định nghĩa của ngành nhân học văn hóa[4]. Điều này rất quan trọng v́ nó giúp tránh được những khái niệm “nguy hiểm” chẳng hạn như những khái niệm về các nhóm dựa trên chủng tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, cho dù khái niệm này phức tạp như thế nào, ta vẫn có thể giải thích cho trẻ hiểu dễ dàng. Mỗi chúng ta sinh ra đều có gia đ́nh, ông bà, cha mẹ, có nơi chôn nhau cắt rốn, chúng ta sẽ nói chung thứ tiếng nói với những người xung quanh, có cùng cách phục sức, ăn những loại thức ăn giống nhau, sống trong những kiểu nhà tương tự về kiến trúc, cùng chung quan điểm về cái Thiện, cái Ác, có thể cùng theo một tôn giáo (hoặc sống với những người theo tôn giáo đó, và thấy những nơi thờ phụng có kiểu cách riêng như nhà thờ, thánh đường, chùa chiền, v.v..), cùng chia sẽ những quy tắc về các hành vi ứng xử, tuân thủ các luật lệ giống nhau, và được dạy những vấn đề về khoa học, nghệ thuật, lịch sử… dựa trên chuẩn kiến thức như nhau. Tập hợp những niềm tin, thói quen, ư tưởng... này được gọi chung là văn hóa.

Đôi khi, để làm cho trẻ có ư thức được bản sắc văn hóa của mình, bạn cần chỉ cho trẻ thấy được sự khác biệt về văn hóa ở những người sống trong những môi trường văn hoá không giống chúng (như nói thứ tiếng khác, phục sức khác, sống trong những kiểu nhà có kiến trúc khác..). Phải làm cho trẻ hiểu rằng, ở đây chúng ta không bàn đến văn hóa như một khái niệm cao siêu nào đó mà chỉ đơn giản là cách chúng ta sống, cho dù anh có là một vị giáo sư hay chỉ một anh nông dân chân lấm tay bùn th́ cả hai đều có thể cùng thuộc về một nền văn hóa nhất định.

Bạn phải chỉ cho thấy rằng sự khác biệt về mặt văn hóa c̣n bao gồm cả sự khác nhau trong cách ăn uống, chẳng hạn như ăn bốc hay dùng dao, nĩa, đũa...[xem thêm 1.1.2.6]; và rằng việc sử dụng những loại công cụ nào đó hay sử dụng các phương tiện chuyên chở nào đó cũng là một phần của bản sắc văn hóa, v.v. và v.v…

Trong một số trường hợp, việc chấp nhận một truyền thống chung cũng tạo nên bản sắc văn hóa riêng. Tuy nhiên, một nền văn hóa không chỉ có những yếu tố truyền thống mà bao gồm cả những yếu tố cách tân. Lấy ví dụ, một chiếc xe hơi được phát minh tại châu Âu không liên quan đến nền văn hóa truyền thống Nhật Bản, nhưng rơ ràng máy móc làm ra ngày nay ở Nhật Bản sẽ mang giá trị của nền văn hoá hiện đại Nhật, cùng những chiếc xe hơi Nhật với những đặc tính điển h́nh. Cũng như bánh pizza trước kia là món ăn truyền thống của người Ư nhưng giờ đây nó cũng trở thành món truyền thống của nhiều quốc gia. Có một thời, tơ lụa là đặc trưng văn hóa của người Trung Hoa mà những bí mật về qui tŕnh sản xuất luôn được giữ kín, vốn được cả thế giới du nhập. Ngày nay đồ tơ lụa đă trở thành một trong những nét văn hóa của nhiều nước.

Nếu người học sống trong một môi trường đa văn hóa (chẳng hạn ở NewYork, nơi có nhiều cộng đồng văn hóa khác nhau cùng chung sống) sẽ dễ dàng nhận thấy được những khác biệt về văn hóa và cách người ta ǵn giữ những đặc trưng văn hóa riêng của ḿnh hoặc chấp nhận thích nghi với hoàn cảnh hiện tại như thế nào. Chẳng hạn, người Ấn Độ ở New York có thể ăn theo lối truyền thống ở một tiệm ăn Ấn Độ hay cũng có thể gọi món hamburger ở một tiệm café như hầu hết mọi người.

Rơ ràng người ta có thể khước từ cái nền văn hóa mà ḿnh đang sống bằng cách chuyển đến sống ở một nơi khác, thay đổi tôn giáo tín ngưỡng, hay cố gắng cải biến thói quen và thay đổi quan điểm của đồng bào ḿnh. Tuy nhiên, ngay cả khi chối bỏ một khung cảnh văn hóa sẵn có, người ta cũng phải thừa nhận sự tồn tại và hiểu cái “lô-gích” của cái nền văn hóa mà họ thách thức.

1.1.1.2 Bản sắc cá nhân

Bản sắc cá nhân chính là tập hợp những đặc điểm làm cho người ta không ai giống ai về mặt h́nh thể, tính cách, cùng những nét văn hóa khác biệt.

Bản sắc cá nhân ít nhất được quyết định một phần bởi môi trường mà chúng ta được giáo dưỡng: khi mới được sinh ra người ta có khả năng lĩnh hội và hấp thụ bất kỳ một loại ngôn ngữ hay một kiểu mẫu văn hóa nào. Chỉ khi lớn lên, chúng ta mới “cắm rễ” vào cái xă hội mà ḿnh đang sống qua việc phát triển một tập hợp các sở thích, niềm tin và những nguyên tắc hành xử mà phần lớn được ta tuân theo (dù muốn hay không) trong cộng đồng mà ta sống. Chẳng ai có thể sống một ḿnh cả. Con người là những sinh vật xă hội, không ai có thể tồn tại mà không cần đến người khác. Tất cả chúng ta đều đồng hóa ḿnh với cộng đồng qua việc bắt chước hành vi của người mà ta ngưỡng mộ, và nói chung là tạo nên bản sắc riêng của ḿnh theo các yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài. Ảnh hưởng của môi trường sống lên bản sắc cá nhân biểu hiện qua nhiều khía cạnh trong đời sống hằng ngày, gồm cả cái cách chúng ta đi đứng, hoa chân múa tay khi nói [xem thêm 1.1.4.3]. Cuối cùng, có vẻ như chúng ta lĩnh hội những qui tắc xă hội một cách quá thuần thục đến nỗi ta cảm thấy chúng hoàn toàn tự nhiên, nếu không muốn nói đó là phương cách duy nhất.

Về mức độ ảnh hưởng của môi trường lên sự h́nh thành nhân cách, để cho dễ hiểu, ta hăy tưởng tượng có hai đứa trẻ sinh đôi hoàn toàn giống nhau, được giao cho hai gia đ́nh ở hai quốc gia khác nhau nuôi nấng. Có thể thấy là cho dù hai đứa bé này được thừa hưởng cùng những đặc tính di truyền th́ cuối cùng chúng vẫn sẽ trở nên rất khác nhau. Thậm chí, ngay cả khi sống cùng trong một nhà nhưng chúng vẫn không giống nhau nếu một đứa thần tượng một ngôi sao màn bạc nào đó, c̣n đứa kia th́ hâm mộ một vận động viên siêu hạng. Một trong hai đứa có những biểu hiện tự phát liên quan đến thứ chúng quan tâm, như ủng hộ (hay chống đối) đối với những kiểu cư xử của thần tượng và “học hỏi” theo cách của riêng ḿnh.

1.1.1.3 Sự đa dạng

Sự đa dạng là cần thiết và dĩ nhiên chúng ta nên xem xét nó.

Trong cuộc sống, chúng ta thường hay so sánh những bản sắc riêng của ḿnh và người khác, lấy ví dụ một trong những điều khác nhau đầu tiên mà chúng ta nhận thấy là ở nam và nữ, và khi chúng ta xác định ḿnh ("Tôi là con gái" hoặc "Tôi là con trai") th́ chúng ta đă xây dựng bản sắc giới tính của bản thân. Những khác biệt có thể nh́n thấy từ bản thân và những người xung quanh (thể chất, tâm lư, văn hóa, tôn giáo…) cho phép chúng ta phân chia và chọn cho ḿnh một không gian sống trong thế giới đó. Ai cũng có khả năng tự xác định ḿnh thông qua một chuỗi các thuộc tính làm cho ḿnh giống người này khác người kia. Nếu có một người đến từ một đất nước khác, một nền văn hóa khác th́ sự khác biệt của cô ta/anh ta thu hút sự ṭ ṃ chú ư của chúng ta nhiều hơn là nếu người ấy có cùng môi trường sống với ḿnh, bởi v́ so với chúng ta th́ người này, ngoài những khác biệt mang tính cá nhân c̣n có thêm những khác biệt về mặt văn hóa nữa.

Trẻ nhỏ phản ứng trước những thứ mới, lạ với những cảm giác vừa lo lắng vừa ṭ ṃ: bản năng khám phá cuốn hút trẻ đến thế giới mà chúng chưa biết, trong khi đó bản năng tự vệ làm chúng hoài nghi về những cái chúng chưa quen. Sự dao động thường xuyên giữa khát vọng khám phá điều chưa biết và nhu cầu về sự an toàn tuỳ thuộc ít hay nhiều vào cá tính phiêu lưu, mạo hiểm của trẻ. Điều này có thể thấy rơ khi trẻ tập đi: sau khi bước một vài bước đến thế giới “chưa biết” th́ vội rụt trở về trong ṿng tay mẹ.

Do đó, trẻ trong độ tuổi từ 3 đến 4 khi gặp một người không cùng màu da, phục sức khác lạ, nói thứ tiếng khác, chúng sẽ bày tỏ một hoặc tất cả các cảm giác ṭ ṃ, hoang mang, hay rụt rè. Chúng sẽ quan sát xem những người xung quanh chúng làm ǵ (đặc biệt là nh́n cách bố mẹ chúng làm) để có được những gợi mở cần thiết về cách cư xử thích hợp với người lạ nọ. Thường th́ phản ứng của trẻ không bị tác động nhiều bởi những điều người lớn nói mà là qua những ǵ họ làm. Đôi khi các bâc phụ huynh nói rằng “Tất cả chúng ta đều như nhau.“ nhưng hành động của họ lại không bày tỏ thiện chí lắm đối với cái khác biệt. Nếu trẻ nhận thấy những người lớn quanh chúng ẩn chứa những thái độ thù địch hay chống đối với những người lạ, chúng có xu hướng “về phe“ với những người giống chúng và quay ra tấy chay, chế nhạo những người khác ḿnh

Nhiều nhà văn, triết gia đă lưu tâm đến phản ứng của chúng ta đối với những sự khác biệt về văn hóa, chẳng hạn, xem một câu chuyện có liên quan do David Hume kể lại [mục 1.1.4.1].

1.1.2 VÍ DỤ

(…)

1.1.3 BÀI TẬP

(…)

1.1.4 TRÍCH DẪN

1.1.4.1 David Hume, “Về sự nghi ngờ hay tin chắc

Lần nọ ở Paris tôi trọ cùng khách sạn với một ông đại sứ người Tunis lúc đó đang trên đường về nhà sau vài năm làm việc ở Luân Đôn. Một bữa tôi thấy ngài Ma-rốc này đứng dưới cổng ṿm thích thú quan sát kỹ lưỡng những cổ xe lộng lẫy đi qua có các thầy tu ḍng Capuchin, những người chưa bao giờ trông thấy một người Thổ. C̣n vị này này mặc dù chẳng lạ lẫm ǵ với quần áo kiểu Âu châu nhưng trước đây vẫn chưa thấy một thầy tu Capuchin với bộ dạng buồn cười như thế bao giờ. Và lẽ ra nên thể hiện sự ngưỡng mộ lẫn nhau th́ lúc đó họ đứng trân ra đó và chẳng bày tỏ với nhau được điều chi. […] Cứ thế, cả loài người cứ chằm chằm nh́n vào mặt nhau. Cái thứ đội trên đầu kia chẳng phải là cái của trời hành nào cả, khăn xếp của người châu Phi hay cái mũ trùm đầu của dân châu Âu th́ cũng thế thôi.

David Hume, "With regard to doubt or conviction", The Natural History of Religion (1749-51)

1.1.4.2 Edward T. Hall, Cái Chiều Ẩn Giấu

Khứu giác đóng một vai tṛ quan trọng trong đời sống của người Ả-rập. Nó không những là một trong những cơ chế thiết lập khoảng cách mà c̣n là một phần tất yếu của một hệ thống hành vi phức tạp. Người Ả-rập thường xuyên phả hơi thở vào mặt người khác khi nói chuyện. Tuy vậy, thói quen này không đơn thuần chỉ là vấn đề tập quán khác biệt. Đối với người Ả-rập, mùi thơm mang lại sự dễ chịu và là dấu hiệu chứng tỏ sự gần gũi trong giao tiếp. Ngửi mùi của bạn ḿnh không chỉ tốt mà c̣n được mong muốn, việc không cho người khác “thưởng thức” mùi vị của ḿnh là việc làm đáng xấu hổ. Người Mỹ th́ ngược lại, họ được dạy rằng phả hơi thở vào mặt người khác khi nói chuyện là điều vô cùng xấu hổ chứ không hề lịch sự chút nào.

Edward T. Hall, The Hidden Dimension, New York: Doubleday, 1966: 149

1.1.4.3 David Efron, Cử Chỉ, Chủng Tộc và Văn Hóa

Năm 1941, David Efron xuất bản một nghiên cứu có tựa đề “Cử Chỉ, Chủng Tộc và Văn Hóa”, trong đó ông ta phân tích hành vi cử chỉ của các nhóm di dân Ư và Do Thái sống ở Mỹ. Efron phát hiện ra rằng trong khi nói chuyện hai nhóm này làm các cử động đầu, thân, tay rất khác nhau. Chẳng hạn, người Ư rất tự nhiên thoải mái khi thực hiện các cử chỉ trong lúc nói chuyện trong khi người Do Thái th́ cứ “cứng đơ” ra. Ngoài ra, người Do Thái gốc Á hay Phi thường túm lấy tay người đối diện khi nói chuyện và làm cử chỉ nhiều hơn hẳn người Ư, trong khi đó người Ư sử dụng vố số nhiều cử chỉ khác nhau để diễn tả nhiều nội dung riêng biệt.

Efron cũng đă nghiên cứu thế hệ hậu duệ đầu tiên của hai nhóm di dân trên và thấy rằng những ai đă bị đồng hóa vào văn hóa Mỹ khá nhiều th́ không c̣n giữ được phong cách điệu bộ cử chỉ của cha mẹ họ bao nhiêu, trong khi đó người nào c̣n gắn bó với truyền thống th́ c̣n giữ lại được lối biểu hiện qua cử chỉ của tổ tiên họ. Kết luận mà Efron thu được đó là: tuỳ thuộc vào các môi trường sống và các nguồn gốc văn hóa mà người ta có những cách biểu hiện qua cử chỉ khác nhau.

David Efron, Gesture, Race and Culture, New York: King's Crown Press, 1941

1.1.4.4 Clyde Kluckohn, “Nhân Loại Trong Chiếc Gương Soi“

Tại sao người Trung Quốc lại không thích sữa và những sản phẩm làm từ sữa? Tại sao người Nhật sẵn sàng cảm tử, một điều mà dường như rất xa lạ đối với người Mỹ? Tại sao một số nơi cho rằng sự kế thừa có được là nhờ cha, một số nơi cho rằng nhờ mẹ và có nơi lại cho rằng nhờ cả cha lẫn mẹ. Những thói quen của chúng ta không phải do Ông Trời hay Số Mạng tạo ra, cũng chẳng phải v́ thời tiết ở Trung Quốc th́ khác so với thời tiết ở Mỹ và Nhật Bản. Đôi khi cảm nhận chung của số đông cho câu trả lời gần giống với câu trả lời của những nhà nhân học:“Bởi v́ chúng ta đă được nuôi dạy như vậy“. Các nhà nhân học định nghĩa “văn hóa” là toàn bộ cách sống của con người, đó là những ǵ người ta được thừa kế về mặt xă hội khi chung sống trong cộng đồng. Văn hóa cũng được xem là cái phần của môi trường sống do con người tạo nên.

Thuật ngữ này có ư nghĩa rộng hơn so với khái niệm “văn hóa” trong văn học và lịch sử. Cái nồi nấu nướng cũ kỉ cũng là một sản phẩm văn hóa giống như một bản xô-nát của Beethoven. Trong ngôn ngữ thông thường, một người có văn hóa là người biết ngoại ngữ, thông thạo lịch sử, văn chương, triết học hay nghệ thuật. Ở một vài lĩnh vực, định nghĩa này c̣n được thu hẹp hơn, chẳng hạn người có văn hóa có thể là người uyên bác về James Joyce, Scarlatti, hay Picasso. C̣n những nhà nhân học cho rằng đă là con người th́ dĩ nhiên có văn hóa. Có một thứ văn hóa chung, và cũng có những nền văn hóa riêng biệt chẳng hạn như văn hóa Nga, Mỹ, Anh, Hottentot (ở Nam Phi), Inca (ở Nam Mỹ). Cái khái niệm văn hóa trừu tượng và có tính phổ quát này nhắc nhở chúng ta không được giải thích các hành động chỉ dựa trên những đặc tính sinh học của những người liên quan, những kinh nghiệm cá nhân, cũng như hoàn cảnh tức thời. Kinh nghiệm qúa khứ dưới dạng văn hóa có mặt trong hấu hết các hoạt động của đời sống hiện tại. Mỗi nền văn hóa cụ thể đưa ra những chỉ dẫn cho mọi hoạt động sống trong xă hội.

 […]

Chế độ đa thê là một chế độ mà phụ nữ Mỹ ghê tởm đến tận xương tủy. Họ không thể hiểu nổi làm cách nào những người phụ nữ có “chồng chung“ kia không ghen tuông hay “điên tiết“ lên khi chồng họ đang ở với một người phụ nữ khác. Họ cho rằng đó là một điều “quái đản“. Trong khi đó phụ nữ sống trong bộ lạc Koryak ở Siberia th́ lại cảm thấy thật ích kỉ và không độ lượng nếu người phụ nữ cứ khăng khăng đ̣i chồng chỉ sống với một ḿnh ḿnh.

Cách đây mấy năm, tôi có gặp một chàng trai trẻ ở thành phố NewYork, anh ta nửa chữ tiếng Anh cũng không biết và rơ ràng là rất lạ lẫm với phong cách của người Mỹ. Anh ta mang ḍng máu Mỹ như tôi và các bạn, nhưng cha mẹ anh ta là những nhà truyền giáo đi đó đây từ Ấn Độ sang Trung Hoa. Vào viện cô nhi từ hồi c̣n nằm ngửa, anh ta được một gia đ́nh người Hoa nuôi dưỡng ở một ngôi làng hẻo lánh. Tất cả những ai gặp đều bảo anh ta giống người Hoa hơn là người Mỹ, bởi đôi mắt xanh, mái tóc vàng của anh ta đă không gây được ấn tượng nhiều bằng cái tướng đi, cách hoa tay múa chân, lối biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt và cách suy nghĩ đặc sệt Trung Hoa.

Clyde Kluckohn, Mirror for man, McGraw-Hill Book Company, 1960, ch.2.

1.1.4.5 Amin Maalouf, Những Đặc Tính Quyết Định

Bản sắc cá nhân của mỗi người bao gồm nhiều đặc điểm không thể nào t́m thấy trên thẻ căn cước của người đó. Dĩ nhiên, hấu hết mọi người có một quốc tịch, đôi khi có hai quốc tịch, thuộc về một truyền thống văn hóa, một chủng tộc hay một nhóm ngôn ngữ, thuộc về một gia đ́nh mở rộng theo những mức độ khác nhau, một ngành nghề, một cơ quan, hay một tầng lớp xă hội nhất định… Cái danh sách này dài hơn nhiều, kéo dài gần như là vô hạn. Chúng ta cảm thấy không ít th́ nhiều rằng, chúng ta thuộc về một khu vực, một làng xóm, một khu phố, một thị tộc, một nhóm người cùng chơi một môn thể thao hay cùng chung nghề nghiệp, một nhóm bạn bè, một nghiệp đoàn, một công ty, một đảng phái, một hiệp hội, một xứ đạo, một nhóm người có cùng sở thích, cùng thói quen tính dục hay cùng có những khuyết tật như nhau, hay những ai phải chịu cùng nghịch cảnh.

Không phải tất cả những mối liên hệ này đều quan trọng như nhau, ít ra ở cùng một lúc nào đó. Nhưng chẳng có cái nào là hoàn toàn vô nghĩa lư cả. Đây là những yếu tố cốt yếu tạo nên nhân cách của chúng ta. Chúng có thể được gọi là “gien của linh hồn”, dù cho đó không phải là những đặc tính bẩm sinh.

Mỗi một yếu tố có thể được t́m thấy ở rất nhiều người khác nhau, tuy nhiên sự kết hợp của chúng ở trên hai người khác nhau không bao giờ giống nhau. Chính điều này làm cho chúng ta trở nên độc đáo và sinh động, và do vậy mà mỗi người chúng ta là duy nhất và không ai có thể thay thế được.

Amin Maalouf, Les identités meurtrières, Paris: Grasset, 1998: 19-20

1.2 CHÚNG TA CÓ THỂ KHÔNG THÍCH MỘT SỐ KHÁC BIỆT

Không phải lúc nào chúng ta cũng thích sự khác biệt ở người khác. Nhưng điều này chẳng có ǵ là xấu cả, chúng ta chỉ xấu khi ngăn cản người khác không được khác ḿnh.

Khi những người từ những nền văn hoá khác gặp nhau th́ thường nảy sinh hiểu lầm hoặc ganh ghét. Chúng ta không nên sợ phải công nhận những điều khác biệt hay nói lư do tại sao không thích chúng. Những phần tiếp theo sẽ tŕnh bày những cách chúng ta có thể xử sự và vượt qua những khác biệt.

1.2.1 KHAI TRIỂN

1.2.1.1 Sự cố chấp

Cố chấp là căn bệnh của kẻ yếu đuối.

Như chúng ta thấy, có một mối quan hệ rất chặt chẽ giữa bản sắc cá nhân và cái phần xă hội trong con người chúng ta. Kết quả là, để cho ư kiến của chúng ta trở nên có ư nghĩa chúng ta có khuynh hướng nâng cao giá trị h́nh ảnh của cộng đồng ḿnh và hạ thấp h́nh ảnh của cộng đồng khác trong cuộc đua tranh (có thật hay trong tưởng tượng).

Ở một mức độ nào đó th́ việc chúng ta thiên vị cộng đồng ḿnh là điều khá b́nh thường. Khi ta lấy làm tự hào về gia đ́nh ḿnh, lớp học, bạn bè, hay đội bóng của ḿnh, điều đó chẳng làm hại đến ai cả, và nói chung cho một nền văn hoá cũng vậy.

Tuy vậy, khi người ta khi đă đủ tự tin vào h́nh ảnh tích cực của cá nhân và cộng đồng ḿnh th́ thường không cần phải hạ thấp qúa đáng h́nh ảnh của người khác để củng cố bản sắc của ḿnh. Một người thực sự "vững vàng" thường không cảm thấy bị đe doạ v́ sự phong phú, đa dạng. Trái lại người yếu đuối và thiếu tự tin thường sợ những điều ḿnh không biết, không hiểu, v́ sự phong phú, đa dạng dễ làm lung lạc và suy suyển niềm tin và những điều xác tín của họ. Trong quá tŕnh t́m kiếm sự bảo vệ từ trong cộng đồng ḿnh người yếu đuối thường có thái độ xa lánh những ai khác ḿnh. Đây là lúc sự cố chấp xuất hiện; thay v́ chỉ thấy rằng người này trông khác ḿnh, hay cư xử theo một cách hơi khác lạ mặc dù có thể là rất b́nh thường trong cộng đồng kia, người cố chấp có thể sẽ cho rằng người kia kém cỏi, xấu xí, nhơ nhuốc, bẩn thỉu, ngu dốt. Như vậy, trong khi một người có thái độ cởi mở hay thậm chí tôn trọng sự khác biệt sẽ thể hiện cho người khác thấy rằng họ chỉ là một trong nhiều nét đa dạng của cuộc sống th́ những người chối bỏ sự đa dạng do định kiến (với ư nghĩ rằng tất cả sự khác biệt đều không đáng quan tâm) lại mang lại cho ḿnh một cảm giác dễ chịu rằng ta là người sở hữu chân lư duy nhất.

1.2.1.2  Thành kiến

Cố chấp c̣n mang đến suy nghĩ rằng tất cả những ai thuộc về một nền văn hóa nào đó đều có cùng những khiếm khuyết như nhau.

Lẽ dĩ nhiên là một người cố chấp sẽ không bao giờ thừa nhận ḿnh là yếu đuối và sợ sự khác biệt. Ngược lại anh ta luôn cố tỏ ra tự tin và cư xử ngạo mạn, hống hách, ḥng che dấu những những khiếm khuyết của ḿnh. Nói chung là anh ta cố khai thác tất cả những thành kiến xấu xa về người khác đă từ lâu sẵn có trong anh ta. Người có thành kiến hay nói "tất cả những kẻ X là đồ bẩn thỉu/keo kiệt/phản bội/ăn cắp" hay tương tự như vậy (có thể chọn một ví dụ khác liên quan đến văn hóa). Những thành kiến về chủng tộc luôn là một câu chuyện không có hồi kết thúc.

Dựa vào thành kiến là một dạng điển h́nh của sự lười nhác tinh thần mà nhờ thế một số người trong chúng ta tránh phải đánh giá người khác qua hành động của họ, qua việc hiểu quan điểm của họ, và qua việc giao tiếp với họ. Trong đời sống thường nhật, chúng ta có khuynh hướng phân loại mọi thứ để đỡ thấy phức tạp trong mọi chuyện. Chúng ta chia loài người thành từng nhóm khác nhau. Cách phân chia đơn giản nhất là “chúng ta” (nhóm mà ta thuộc về) và “họ” (tất cả những ai khác), tuy vậy nhóm này thường c̣n bị chia nhỏ hơn. Sau đó chúng ta gán thuộc tính cho mỗi nhóm. Một số đặc điểm có thể thấy ở hầu hết mọi người trong nhóm (chẳng hạn, người Xênegan th́ đến từ Tây Phi và có da màu đen), trong khi những đặc điểm khác là do khái quát hoá sai lệch và có khi c̣n chỉ là những bịa đặt trắng trợn. Chẳng hạn khi nghe ai đó bị mất hành lư ở nhà ga X th́ có người sẽ nhanh chóng kết luận rằng tất cả mọi người ở thành phố X đều là kẻ cắp. Đây là khái quát hoá sai lệch và thậm chí là một nhầm lẫn (vụ đó xảy ra như vậy chỉ có nghĩa là có một kẻ cắp ở thành phố X), bởi v́ có thể tên kẻ cắp đó đến từ một nơi khác.

1.2.1.3 Sự ngược đăi

Có nhiều cách bày tỏ sự ganh ghét những kẻ khác ḿnh, từ lờ đi cho đến giết hại.

Không ai là chưa từng có ra một loạt những thành kiến đối với các nhóm sắc tộc khác. Người Hy Lạp cổ xưa thường gọi những người nước ngoài là "barbarians" (từ chữ "bárbaros" nghĩa là "nói lắp") để chỉ cái cách nói chuyện khó hiểu của những người đó.

Cách phản ứng tiêu cực đầu tiên đối với sự đa dạng là coi những ai khác ḿnh là những người chẳng liên quan ǵ đến ḿnh. Do đó người ta thường cố gắng không để ư đến sự có mặt của họ, chối bỏ bất ḱ sự quen thuộc nào và mong rằng họ sẽ tránh xa đường ḿnh đi để ḿnh đỡ bị làm phiền. Trong trường hợp này thái độ thường thấy là: "Tôi chẳng chống ǵ họ cả miễn là họ đừng xâm phạm đến tôi."

Cách thứ hai là lăng mạ bằng lời nói. Mỗi cộng đồng đều có khuynh hướng tạo nên một số từ lăng mạ để gọi tên những kẻ đến từ cộng đồng khác; chẳng hạn một số người Anh và người Mỹ gọi người Pháp là “frogs” (con ếch), người Đức là "krauts" (?), người Ư là “spaghetti”(ḿ ống), Tây Ban Nha là "spics" (?), người da đen ở Mỹ là “coons” (ông mănh), Trung Quốc là "chinks"(?) v.v…. Nh́n bề ngoài th́ những cái tên đó có vẻ như bông đùa và trong sáng nhưng chúng lại được phát ngôn bằng một giọng điệu mỉa mai làm tổn hại đến ḷng tự trọng của những người nó nhằm đến. Tương tự như tṛ đùa trong mục 1.2.3.3. để giễu cợt những khiếm khuyết giả định của một số dân tộc. Thực ra cười cợt người khác cũng không phải là điều nghiêm trọng lắm chừng nào mà người nghe được chuẩn bị tinh thần. Thực tế th́ những người hỉ hả đùa cợt kẻ khác (những kẻ khác họ) lại là những người đầu tiên thấy bị xúc phạm khi đến lượt họ bị cười cợt

Ranh giới giữa việc giễu cợt có ác ư và hăm hại thật vô cùng mong manh. Điều ǵ sẽ xảy ra nếu chúng ta cứ luôn cố chấp, nói cách khác là chúng ta cứ luôn ḱ thị những người khác chúng ta và đối xử với họ như thể họ là những sinh vật hạ đẳng? Lúc đó chúng ta sẽ trở nên hống hách và tự cho ḿnh cái quyền áp đặt người khác. Theo cách này tính cố chấp sẽ dẫn đến bạo lực, ban đầu th́ rời rạc nhưng sau th́ có hệ thống, cho đến khi, trong một số trường hợp xấu nhất, là gây chiến, và thậm chí cả diệt chủng.

Bạn có thể thử làm một bản liệt kê về những h́nh thức hăm hại khác nhau, lấy ví dụ từ lịch sử (nếu sinh viên của bạn có đủ thông tin) hoặc những sự kiện xảy ra trong khu vực ḿnh ở hay những vùng kế cận, hoặc từ sách báo hay truyền h́nh.

1. Không b́nh đẳng về mặt cơ hội. Các thành viên thuộc về một nền văn hóa bị phân biệt đối xử bên ngoài có vẻ như được đối xử như tất cả mọi người, nhưng thật ra họ khó có khả năng được cất nhắc vào các chức vụ trong xă hội. Đôi khi họ bị phân biệt đối xử v́ không được giáo dục đủ để có thể làm được một công việc cụ thể nào đó, nhưng trong trường hợp này họ bị tước bỏ cơ hội b́nh đẳng ngay từ trước, v́ lư do này hay lư do khác, những người này không thể đến trường như những người khác.

2. Cách ly. Người ta bị phân biệt đối xử về mặt lănh thổ. Cái từ "ghetto" ban đầu có nghĩa là những khu phố nhỏ mà người Do Thái bị buộc phải sống ở đó. Nhưng những "khu phố nhỏ" đó vẫn tồn tại thậm chí ở những thành phố lớn hiện đại ở những nước dân chủ. Nơi đó những khu phố nhỏ này về mặt pháp lư không được gọi tên như vậy nhưng trên thực tế th́ vẫn tồn tại như vậy. Đó là những khu vực bị phân biệt v́ lư do kinh tế, v́ những người trong cộng đồng bị phân biệt đối xử có ít tiền và chỉ đủ sống ở những nơi cũ nát và rẻ tiền.

3. Nạn phân biệt chủng tộc được thể chế hóa. Thành viên của nhóm thiểu số bị buộc phải sống ở một số khu vực nhất định do pháp luật quy định, họ chỉ được làm một số loại công việc nhất định, không được đi học, hoặc thậm chí không được bén mảng đến một số nơi công cộng.

4. Bắt lưu đày. Thành viên của nhóm thiểu số bị bắt buộc phải rời bỏ nhà và đi đến những nơi khác hoặc bị nhốt vào trại tập trung.

5. Tàn sát. Trong một cuộc chiến quy ước hay chiến tranh du kích ở đô thị, những người thuộc nhóm bị phân biệt đối xử bị tàn sát bằng mọi cách với hy vọng có thể khiến họ tuyệt diệt hay giới hạn khả năng tự trị của họ.

6. Diệt chủng. Đây là một h́nh thức tàn sát “giả khoa học” và có tính toàn cầu. Mục đích cuối cùng là loại bỏ tất cả thành viên của một dân tộc hay một nhóm thuộc về một nền văn hóa nhất định, chẳng hạn như phát-xít Đức với cuộc thảm sát người Do Thái.

1.2.2 VÍ DỤ

(…)

1.2.3 BÀI TẬP

(…)

1.2.4 TRÍCH DẪN

1.2.4.1. Edward T. Hall, Ngôn ngữ không lời

Người Mỹ La tinh có xu hướng đứng gần khi nói chuyện, không như chúng ta ở Mỹ. Thực sự là họ cảm thấy không thoải mái nếu như không đứng nói chuyện ở khoảng cách thật gần. V́ thế khi họ xích gần vào th́ chúng ta lại bước lui. Có thể v́ vậy mà họ cho rằng chúng ta xa cách, lạnh lùng, thiếu chan ḥa và không được thân thiện. Trái lại, chúng ta th́ không ngớt “kết tội”họ là cứ phả hơi thở vô mặt, xấn người vào khi nói chuyện, hay “văng miểng” tùm lum vào mặt người khác.

Edward T. Hall, The Silent Language, New York: Doubleday, 1959: 164

1.2.4.2. Claude Lévi-Strauss, Nhiệt đới buồn thiu

Trong các chuyến đi đến các dân tộc vùng Amazonia từ năm 1935 đến 1939, nhà nhân học Claude Lévi-Strauss đă thuyết phục được một thổ dân Anh-điêng cho ông ta được nếm koro, một loại ấu trùng màu xám nhạt có rất nhiều trong những thân cây mục. Đây là món ăn mà người Anh-điêng rất khoái.

“Do từng bị những người da trắng chế nhạo, các thổ dân Anh-điêng không bao giờ thừa nhận là họ thích ăn những sinh vật này. Tuy nhiên, chỉ cần vào rừng, nh́n thấy các cây pinheiro cao chừng hai ba chục mét bị băo quật ngă, rồi lại được chẻ nhỏ, chỉ c̣n trơ lại phần lơi như chính linh hồn của pinheiro th́ bạn sẽ biết ngay những người săn t́m koro đă t́m đến đây. Và nếu bất th́nh ĺnh bước vào nhà của một người Anh-điêng, bạn có thể thoáng thấy một chén nhung nhúc cái món cao lương mỹ vị đó trước khi người ta vội vàng giấu nó đi. Quả thật là không dễ có được một lần được chứng kiến thổ dân đi "săn" koro. Chúng tôi th́ đă quyết âm mưu một phen để chứng kiến cho bằng được. Một thổ dân Anh-điêng bị bệnh, người duy nhất bị bỏ lại trong một ngôi làng hoang, có vẻ như là một "nạn nhân" dễ chịu nhất. Chúng tôi đặt vào tay anh ta một cái ŕu, lay và đẩy anh ta đi. Nhưng thật là công toi, anh ta dường như chẳng hiểu ư chúng tôi. Đến nước cuối cùng, chúng tôi đành phải thổ lộ rằng chúng tôi muốn ăn koro. Rốt cuộc chúng tôi đă thành công kéo được anh ta đến chỗ mấy thân cây mục. Chỉ cần một nhát ŕu đă lộ ra hàng ngàn ngăn nhỏ trong hốc cây. Trong mỗi ngăn là một sinh vật béo nhẫy, vàng ruộm như con tằm.Tôi đă phải giữ mồm để ḿnh không phải thốt lên. Trong lúc mấy người Anh- điêng miệt mài t́m, tôi đă không chịu nổi khi phải đứng nh́n; từ trong thân nó ứa ra một chất béo ngậy trắng như sữa mà tôi đă đê mê thưởng thức sau chút do dự. Nó dẻo như bơ và có vị như nước dừa”.

Claude Lévi-Strauss, Tristes Tropiques, Paris: Plon,1955

1.3 KHÁC NHAU CŨNG TỐT!

Sự khác biệt biến thế gian này thành một nơi thú vị để sống.

Thông thường, điều khiến ta cảm thấy cuốn hút ở người khác chính là thứ đă làm cho người đó khác với ta. Thử nghĩ coi, thật là chán nếu ai cũng có khuôn mặt giống nhau, ăn nói như nhau và xử sự theo cùng một lối. Hay cứ tưởng tượng cái cảnh ḿnh vào một viện bảo tàng, ở đó có hàng ngàn bản sao của cùng một tấm h́nh: khi nh́n đến tấm thứ hai ta chẳng c̣n chút hứng thú nào nữa để mà xem tiếp các tấm h́nh c̣n lại nữa.

1.3.1 KHAI TRIỂN…

1.3.1.1 Lợi ích của sự khác biệt (1)

Nếu không có sự khác biệt, có lẽ chúng ta cũng không thể nào biết được ḿnh là ai nữa. Khi đó, chẳng thể nào c̣n có thể bảo rằng tôi thế này tôi thế kia khi mà không có một ai khác với ḿnh để mà so sánh.

Nếu cả nhân loại ai cũng đều cao 1,6 mét th́ chúng ta chẳng cần chú ư đến vóc dáng của ai. Nếu tóc ai cũng đỏ th́ chẳng c̣n ai để ư đến màu tóc làm ǵ. Nếu ăn hoài một loại thức ăn như nhau th́ việc bếp núc chẳng c̣n quan trọng. Nếu mặc một thứ như nhau th́ y phục chẳng khiến ai quan tâm. Nếu đều nghĩ y chang nhau về mọi sự th́ chúng ta chả cần phải chia sẻ với nhau làm chi. Và cứ thế, nó loại trừ hết mọi khả năng giúp ta tạo nên bản sắc cho ḿnh. Do vậy mà ta sẽ hiểu chính ḿnh hơn khi quan sát sự khác biệt giữa ta và người khác.

Xem trích dẫn: Tzvetan Todorov [mục 1.3.4.1]

1.3.1.2 Lợi ích của sự khác biệt (2)

Lưu ư đến sự khác biệt cũng giúp ta tự hoàn thiện ḿnh. Bắt chước người khác là một trong những động cơ chính yếu thúc đẩy người ta học hỏi.

Người ta có thể có những giải pháp khác nhau đối với một vấn đề. Việc so sánh ḿnh với một ai đó có giải pháp khác ḿnh có thể vô cùng hữu ích, nó giúp ta thấy được khả năng hạn chế của ta, nó cho phép ta bắt chước cách làm kia nếu nó tỏ ra phù hợp hơn cách làm của ta, và nó giúp ta so sánh các sách lược khác nhau để tạo nên một giải pháp phức tạp và hiệu quả hơn. Hai cá nhân, hay nói rộng hơn, hai nền văn hóa thu được rất nhiều lợi lộc và sự tiến bộ khi nó gặp nhau và tự đối chiếu với nhau.

1.3.2 VÍ DỤ

(…)

1.3.3 BÀI TẬP

(…)

1.3.4 TRÍCH DẪN

1.3.4.1 Tzveton Todorov, Sống chung

Chúng ta không thể phán xét chính ḿnh khi chưa bước ra khỏi ḿnh và nh́n sự việc với đôi mắt của kẻ khác. Nếu như lớn lên trong biệt lập th́ con người ta đă không thể nào phán xét được điều ǵ, ngay cả phán xét chính họ, v́ lúc đó chẳng có tấm gương nào để cho người ta soi thấy ḿnh trong đó.

Tzvetan Todorov, La vie commune. Essai d'anthropologie générale, Paris: Seuil, 19

1.4 CHẤP NHẬN SỰ KHÁC BIỆT LÀ CÁCH TIỆN LỢI CHO MỌI NGƯỜI

Cách duy nhất để sống hoà b́nh với nhau là học cách chấp nhận sự khác biệt.

Một khi đă thừa nhận rằng sự khác biệt tồn tại trên thế gian này, và mặc dù có một số khác biệt làm ta thích và số khác làm ta không thích, chúng ta cần hiểu rằng cuộc sống bắt ta phải khoan dung ngay cả đối với những thứ mà ḿnh không thích và điều này là v́ lợi ích của chính ta.

Để sống trong hoà b́nh tương đối, các nhóm người trong cùng một lănh thổ có thể t́m ra một hệ thống chung các quy tắc và những điều ngăn cấm để bảo đảm rằng cái ngưỡng có thể gây nên bạo lực sẽ không bị vượt qua. Nói cách khác, thái độ bất khoan dung của từng cá nhân được kiểm soát một cách tức th́. Quy tắc đầu tiên là về sự b́nh đẳng giữa những con người với nhau. Điều này không có nghĩa phủ nhận mỗi con người đều có những đặc tính riêng biệt làm cho người này khác người kia, nó chỉ xác quyết rằng mọi người đều có những quyền như nhau.

1.4.1 KHAI TRIỂN…

1.4.1.1 Sự b́nh đẳng

B́nh đẳng có nghĩa là ai cũng có quyền được khác với tất cả những người khác.

Chẳng phải là không đúng khi bảo sự đa dạng mang đến điều tốt đẹp, miễn là các nhóm chủng tộc và tôn giáo cứ sống trên lănh thổ của họ và không làm phiền đến nhau. Con người luôn di chuyển từ nơi này đến nơi khác, thường là để t́m kiếm một cuộc sống tốt hơn. Di cư là chuyện không ai ngăn chặn được. Và ngay cả nếu ngăn chặn được đi nữa th́ chúng ta có lẽ cũng phải chấp nhận mọi sự như nó vẫn là thế và cố gắng sống hoà b́nh với các nhóm người khác trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt của nhau.

Tôn trọng sự khác biệt có nghĩa là thừa nhận rằng tất cả mọi người đều b́nh đẳng. Tất cả chúng ta đều b́nh đẳng bởi v́, vượt lên những khác biệt bên ngoài như ta đă thấy, mỗi chúng ta đều cần những thứ như nhau để sống: không chỉ thức ăn, nước uống, ngôi nhà để trú ngụ, gia đ́nh để bảo vệ chúng ta, áo quần để che đậy thân thể, chăm sóc y tế để giúp chúng ta hồi phục trong lúc ốm đau, mà c̣n sự tự do, tự do diễn đạt ư kiến, tự do vui chơi, tự do hấp thụ một nền giáo dục, tự do chạy nhảy, yêu đương v.v…

Tuyên Ngôn Độc Lập của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ [xem 1.4.4.1] ra đời trên những quyên tắc như thế, và cũng đă được Umberto Eco thảo luận trong phần TRÍCH DẪN của mục này [xem 1.4.4.6]

Một khi đă chấp nhận nguyên tắc b́nh đẳng, ta thấy rằng, về mặt sinh học, chúng ta rất giống nhau. Phần lớn những sự khác biệt chẳng hạn giữa một thổ dân Úc châu và một người Thụy Điển, liên quan đến h́nh dáng bên ngoài [xem 1.4.2.1] (và tất nhiên cả bản sắc văn hóa), trong khi các cơ quan bên trong cơ thể th́ y chang nhau. Kết quả là con người phải giải quyết những vấn đề cơ bản giống nhau. Và cứ thế mỗi nhóm người t́m ra những câu trả lời khác nhau cho những nhu cầu giống nhau này.

1.4.1.2 Quyền và nghĩa vụ

Chúng ta không chỉ có quyền mà c̣n có nghĩa vụ.

Mỗi người (dù là đàn ông, đàn bà, hay trẻ con) đều có quyền ăn, ngủ, bài tiết, tự do đi lại, yêu đương, diễn đạt tư tưởng, có những mối quan tâm và cũng như những sở thích riêng, miễn là nó không cản trở người khác làm như vậy.

Tuy nhiên, để bảo đảm các quyền căn bản cho tất cả mọi người, chúng ta phải từ bỏ một phần tự do cá nhân. Nếu thích hát to th́ cứ hát v́ chúng ta được tự do làm vậy. Tuy nhiên, khi có những người khác đang ngủ, cầu nguyện hay đọc sách th́ chúng ta phải từ bỏ cái quyền tự do ca hát này để khỏi xâm phạm đến quyền tự do của kẻ khác. Khi khác sẽ đến lượt họ hy sinh một cái ǵ đó cho chúng ta. V́ thế, nếu được mời đến nhà ai, chúng ta cố gắng tuân theo các nguyên tắc bắt buộc ở đó (miễn là nó không đi ngược lại những nguyên tắc của chúng ta), trong khi đó, về phần ḿnh, chủ nhà nên giúp chúng ta cảm thấy thoải mái bằng cách giải thích phong tục ở nơi đây và cho phép chúng ta giữ những nguyên tắc của ḿnh (chẳng hạn, một chủ nhà theo đạo Thiên Chúa không thể bắt vị khách theo đạo Hồi ăn thịt heo). Không phải lúc nào cũng dễ t́m thấy một sự cân bằng để mọi người có thể giữ nguyên thói quen của ḿnh mà không đụng chạm đến thói quen của người khác. Đôi khi cần phải thảo luận rất lâu trước khi đi đến một thỏa thuận, và những ai liên quan nên sẵn sàng nhượng bộ một ít.

Đọc thêm bài viết của Furio Colombo trong chủ đề này [xem 1.4.4.5]

1.4.1.3 Chúng ta nên làm ǵ?

Nên cố gắng hiểu tại sao người khác hành động khác ta.

Khi gặp một sự khác lạ làm ta bối rối, ta nên nghĩ rằng có lẽ phản ứng tiêu cực mà ta có đơn giản là do ḿnh không hiểu người ta. Nếu có thể, chúng ta thử đặt câu hỏi với người kia để t́m hiểu xem tại sao người ta làm như vậy, hoặc ta cũng có thể t́m trong sách vở hay kiếm một ai đó có thể giải thích cho ta hiểu. Chúng ta bắt đầu bằng giả định rằng thường th́ không ai cố ư xử sự tệ cả, và biết đâu người kia cũng thấy hành động của ta là kỳ dị. Mỗi người là một kẻ xa lạ đối với người khác. Bằng cách cố gắng hiểu quan điểm của người khác, có thể chúng ta sẽ nhận ra rằng hoàn cảnh của họ cũng chẳng khác hoàn cảnh của chính ta, hay ít ra cũng thấy rằng chúng ta có nhiều điểm giống nhau hơn là chúng ta tưởng.

Tôn trọng người khác không có nghĩa là từ bỏ những điều ḿnh cho là đúng: chẳng có ǵ sai trái cả khi cảm thấy tự hào về cái nhóm người mà ḿnh thuộc về. Khi có được đối thoại thực sự, chúng ta có thể giải thích những sở thích và quan điểm của ḿnh cho người khác hiểu. Nhưng chúng ta không có quyền ngăn cấm họ cảm nhận sự việc và theo đó hành động theo cái cách hơi khác so với chúng ta. Cũng thế, điều quan trọng là không có bất cứ nhóm nào đe dọa một nhóm khác bằng cách áp đặt sở thích và những điều xác quyết của ḿnh lên nhóm đó.

Khoan dung [xem 1.4.4.3] có nghĩa là thừa nhận giá trị của những ư kiến của người khác, ngay cả khi chúng ta không có cùng quan điểm. “Tôi không đồng ư với những ǵ bạn nói (hay làm), nhưng bạn có quyền nói (hay làm) điều đó”.

1.4.2 VÍ DỤ

(…)

1.4.3 BÀI TẬP

(…)

1.4.4 TRÍCH DẪN

1.4.4.1 Tuyên Ngôn Độc Lập của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1776)[5]

Chúng tôi khẳng định một chân lư hiển nhiên rằng, mọi người sinh ra đều b́nh đẳng, rằng tạo hóa đă ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc; Rằng, để đảm bảo cho những quyền này, các chính phủ được lập ra trong dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân; Rằng, bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, th́ nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc đă nói ở trên, cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có lợi nhất cho an ninh và hạnh phúc của họ.

American Declaration of Independence (1776)

1.4.4.2 John Locke, Một Tiểu Luận Về Sự Hiểu Biết Của Con Người

Chúng ta nên xót thương cho sự ngu muội của chúng ta và cố gắng diệt trừ nó một cách nhẹ nhàng, thoả đáng. Đừng có lúc nào cũng cư xử tệ hại với người khác như một kẻ bướng bỉnh ngốc nghếch bởi v́ họ sẽ không từ bỏ và chịu nghe lời ta. C̣n nếu ta cứ cố áp đặt họ th́ ta cũng ngang bướng chẳng kém chi họ. Đâu là người có được bằng chứng không thể chối căi về chân lư của mọi sự, về sai lầm của người mà ḿnh kết án; hay, đâu là người đă thấu hiểu tường tận suy nghĩ của chính ḿnh hay của người khác?

John Locke, An Essay Concerning Human Understanding, 1689. Chapter XVI, 4

1.4.4.3 Voltaire, “Khoan dung”

Khoan dung là ǵ? Nó là ân huệ của con người. Tất cả chúng ta đều được tạo nên bởi những yếu đuối và sai lầm. Chúng ta hăy tha thứ cho nhau những điều ngốc nghếch. Đó là quy luật đầu tiên của tự nhiên…

… chúng ta hăy độ lượng với nhau, bởi v́ tất cả chúng ta đều yếu đuối, thiếu nhất quán, không bền ḷng và dễ lầm lạc. Không lẽ một cây sậy bị gió thổi rạp ḿnh trong bùn lại bảo với cây sậy kế bên đang rạp ḿnh ngược hướng: Này tên khốn nạn kia, rạp về phía tao, không thôi tao bảo người ta nhổ bật gốc hay đốt cháy mi bây giờ?

Voltaire, "Tolérance", Dictionnaire philosophique, 1764.

1.4.4.4 Con voi

(…) [xem chuyện thầy bói mù sờ voi]

1.4.4.5 Furio Comlombo, Những yêu cầu tối thiểu để chung sống.

Những thảm trạng và đổ vỡ xảy ra khi người ta ḱ vọng viễn vông hay đ̣i hỏi qúa nhiều ở người khác.

Chúng ta đang hướng đến một xă hội mà ở đó con người cần có một bản sắc cá nhân mạnh mẽ,có quyền tự xác định ḿnh, và sự cần thiết phải cải tổ về mặt xă hội các nhóm dựa trên niềm tin và văn hóa.

Huyền thoại và hy vọng về một sự hợp nhất dường như biến thành một số các tiểu xă hội như nhau và độc lập với nhau được nối kết bằng một điều luật cơ bản bảo đảm sự cân bằng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Quy tắc nền tảng về sự b́nh đẳng chính là thể hiện mức độ cao nhất của sự tôn trọng lẫn nhau.

Người ta khả dĩ tôn trọng nhau và điều này sẽ được bảo đảm nếu biết thừa nhận những cái riêng của người khác và biết hạ thấp mức độ ḱ vọng của ḿnh về các hành vi của họ. Cần phải thiết lập một chuẩn mực tối thiểu và ổn định về các giá trị và hành vi thực tiễn. Chuẩn mực đó phải đủ cao để bảo vệ mọi người và cũng phải đủ thấp để ai cũng chấp nhận và được hầu hết mọi người tuân thủ nó một cách chặt chẽ trong thực tế.

Đă qua rồi cái thời của những giấc mơ về t́nh thân ái đại đồng. Theo đuổi nó chỉ như đi vào đường cùng, có khi c̣n làm nảy sinh xung đột. Chính việc giới hạn các quy tắc và hạ thấp chuẩn mực của các hành vi thông thường là khởi đầu của đề án có tính hiện thực nhằm đẩy lùi bạo lực, ḱ thị, xúc phạm hay cô lập con người.

Mặc dù những chuẩn mực mới phát sinh từ mong muốn tốt đẹp là bảo vệ con người, đặc biệt là kẻ yếu, nhưng những chuẩn mực đó phải khơi gợi ở con người khả năng tự vệ và đấu tranh cho bản thân. Cần phải thấy rằng việc tuân thủ những quy tắc tối thiểu để tôn trọng lẫn nhau làm cho con người ta lương thiện hơn, cuộc sống ít nguy hiểm chết chóc hơn, và không phải trả một cái giá qúa đắt như khi không chấp hành nó.

Đây là một phương thức hữu hiệu giúp tránh được việc phải vận dụng đến các giá trị tôn giáo trong việc loại bỏ sự nguy hiểm của cái gọi là “luật lệ tự nhiên”. Tôn giáo nào cũng quan tâm đến những “luật lệ tự nhiên”, diễn giải và chấp nhận nó theo cách của riêng ḿnh; và do đó mà t́nh h́nh lại càng khó khăn thêm v́ những chướng ngại vô h́nh.

Tại sao chúng ta phải chấp nhận một cách tiếp cận tối thiểu khi thiết lập những nguyên tắc cho các hành vi thông thường và cho sự tôn trọng lẫn nhau? Một lư do hiển nhiên là chúng ta cần quy định những nguyên tắc này ở một mức độ khác với các chuẩn mực tôn giáo, và thực tế là thấp hơn tôn giáo để tránh hiểu lầm. Ảo tưởng về một “chủng tộc siêu việt” đă từng là một bi kịch của nhân loại. Việc thuyết phục ngấm ngầm và thường xuyên rằng tôn giáo này là đúng đắn và như thế, ưu việt hơn tôn giáo kia, xét cho cùng cũng chẳng ít bi thảm hơn. Nỗi lo sợ về sự đa dạng là một căn bệnh cần được nh́n nhận và chẩn trị trước khi nó gây hại.

Các hành vi xă hội đều có nguyên nhân của nó. Nạn phân biệt chủng tộc, ḱ thị, cô lập và áp bức là sản phẩm của văn hóa. Và chỉ có văn hóa mới có thể thiết lập được một sự ḥa hợp giữa các nhóm khác nhau. Như thế, có lẽ nó cũng sẽ tạo lập được một trạng thái ḥa b́nh và khoan dung.

Những yêu cầu tối thiểu để chung sống:

1. Bất ḱ nhóm nào cũng đều có quyền tự xác định ḿnh, quyền được công nhận, được gọi tên và nhắc đến theo cách ḿnh muốn.

2. Mỗi nhóm đều phải đề cập đến các nhóm khác theo những đặc tính riêng của các nhóm đó. Phải đảm bảo các quy tắc của ḿnh không xâm phạm đến các quy tắc thuộc về nhóm kia bất cứ ở đâu, khi nào.

3. Tránh xâm lấn và gây mâu thuẫn phạm vi chủ quyền và những hoạt động đặc thù của nhau bằng sự công nhận lẫn nhau và bằng các thỏa thuận trực tiếp.

4. Việc tuyên bố và khẳng định các nguyên tắc của ḿnh phải được thực hiện sao cho chúng không mang ư nghĩa công kích hay làm xúc phạm đến các nguyên tắc của nhóm khác.

5. Cần phải có sự phân biệt rơ ràng giữa việc bày tỏ ư kiến và việc thể hiện hành động trong mỗi nhóm để không hạn chế mọi người tự do phát biểu đồng thời ngăn chặn những hành vi bạo lực.

6. Mẫu hành vi của những người hút và không hút thuốc lá (“smoking-no smoking” model of behavior) [6] có thể được xem như là h́nh mẫu cho các hành vi khác: phải dành không gian và thời gian cho các luồng ư kiến khác nhau, và ngay cả các hành động khác nhau nếu nó không gây hại.

7. Mỗi nhóm phải biết chấp nhận một số trách nhiệm chung, phải biết chia sẻ gánh nặng và nhiệm vụ được quy định trong nhóm và thoả thuận với nhóm khác nhằm đạt đến một mức độ công bằng nhất định.

8. Không có tôn giáo nào được xem là ưu việt hay đúng đắn hơn tôn giáo khác. Tất cả phải được nh́n nhận và tôn trọng dưới bất cứ h́nh thức nào.

9. Phải thiết lập một phạm vi ngoại lệ có tính tuyệt đối được tất cả các nhóm xem xét và chấp nhận. Sự toàn vẹn về mặt tinh thần và thể xác, tôn trọng trẻ em, kẻ yếu và người khuyết tật là những điều cốt yếu.

10. Phải thiết lập các nhóm ḥa giải. Họ phải là những người đáng tin cậy và được mọi phía chấp nhận, và phải có khả năng hóa giải mọi hiểu lầm và ngăn chặn được các cuộc xung đột.

11. Các nhóm phân chia theo giới tính và khuynh hướng tính dục phải được hưởng một sự công nhận trọn vẹn và không bị phán xét dựa trên giới tính và khuynh hướng tính dục.

12. Phải thiết lập một hệ thống báo động sớm, có lẽ bằng cách cho phép các nhóm ḥa giải có khả năng thấy được mọi chuyện, có được sự tin cậy, và trách nhiệm được mọi người công nhận.

LƯU Ư:

Các “nguyên tắc” trên đuợc viết ra dựa trên giả định rằng hấu hết các hoạt động xă hội của các nhóm khác nhau xảy ra trong môi trường thực tế trong đó luật pháp quy định rất lỏng lẻo.

Hiển nhiên là mỗi nhóm sẽ giữ thái độ ủng hộ luật pháp để bảo vệ và cải thiện ḿnh. Các nhà làm luật sẽ nổ lực để tiên liệu mọi nhu cầu và đưa ra những điều kiện tốt hơn để cùng nhau hợp tác.

Tuy nhiên, phần đời sống xă hội tồn tại ngoài luật pháp và bất tuân luật phát không những lớn đáng kể mà c̣n luôn phát triển. Mỗi nhóm nên góp phần thực hiện và hỗ trợ đúng mực luật pháp hiện hành hoặc giúp thay đổi những điều luật bất hợp lư. Tuy vậy, việc đẩy mạnh bổn phận trực tiếp có thể cải thiện các cơ hội có được những hành vi khoan dung và sự tôn trọng lẫn nhau ở một mức độ cao hơn.

Đằng sau những điều lưu ư này tiềm ẩn tương lai của một tập thể hoà b́nh trong sự đa dạng, tự điều chỉnh và tự kiểm soát trong khuôn khổ luật pháp quy chiếu (Hiến Pháp, các điều khoản riêng biệt của luật pháp v.v…).

Trong viễn cảnh đó mọi người có lẽ sẽ bớt hành động tự phát và xâm hại đến quyền lợi của nhau hơn. Người ta sẽ tự nguyện chấp nhận những hành vi không mấy dễ chịu của nhau, đó chính là hoà b́nh được hiểu theo nghĩa v́ lợi ích chung.

Các nhóm nên thừa nhận một thực tế rằng bất cứ xung đột nào dù nhỏ bé và mang tính địa phương đến đâu cũng cực kỳ nguy hiểm và dễ gây ra bạo động trên diện rộng. Từ đó nên sớm nhận ra rằng trong trường hợp xảy ra đổ vỡ và xung đột mà dẫn đến chiến tranh, sẽ chẳng có ai là vị cứu tinh và cũng chẳng có ai là người giải phóng.

Chúng ta đang bước vào kỷ nguyện “tự phục vụ”. Bởi thế chúng ta cần có những hướng dẫn cần thiết cho biết chúng ta cần phải làm ǵ để sinh tồn.

Furio Colombo: Minimum requirements for living together.

1.4.4.6 Umberto Eco, Khi kẻ khác có mặt.

Chúng ta là những sinh vật đứng thẳng, v́ thế rất chi là mệt khi ở tư thế lộn ngược qúa lâu. Kết quả là chúng ta có một ư niệm chung về hướng lên và hướng xuống, và thích đứng thẳng hơn là thích lộn ngược. Cũng vậy chúng ta có những ư niệm về trái hay phải, đi hay dừng, đứng lên hay nằm xuống, ḅ hay nhảy, ngủ hay thức. Chúng ta đều rơ cảm giác như thế nào khi đánh vào vật cứng, đâm xuyên qua vật mềm hay chất lỏng, khi ṿ, khi gơ, khi đấm, khi đá, và cả khi nhảy đầm. Danh sách này khá dài và có thể bao gồm cả sự nghe, thấy, ăn hay uống, nuốt hay nhổ. Và chắc chắn mỗi người đều có những ư niệm cho biết cảm giác nó như thế nào khi thu nhận, nhớ lại, cảm thấy ham muốn, sợ hăi, buồn phiền hay khây khỏa, vui sướng hay đớn đau và thế nào khi phát ra âm thanh diễn tả những cảm xúc này. V́ thế (và v́ chúng ta đang nói về các quyền), có những quan niệm phổ quát về sự hạn chế: chúng ta không muốn ai đó ngăn không cho chúng ta nói, nh́n, nghe, ngủ, nuốt hay nhổ, hay đi đến nơi đâu chúng ta muốn. Chúng ta đau đớn khi có ai đó trói buộc hay cô lập chúng ta bằng vũ lực, đánh đập, làm bị thương hay giết chúng ta, hành hạ chúng ta về mặt thể xác hay tinh thần làm suy giảm hay triệt tiêu khả năng suy nghĩ của chúng ta.

[…]

Chúng ta trước hết phải tôn trọng các quyền của người khác, trong đó bao gồm quyền được nói và suy nghĩ. Giá mà những đồng loại của chúng ta tôn trọng những “quyền của thân thể” này th́ đă không có cuộc thảm sát những người vô tội, không có vụ “đêm Thánh Bartholomew” [7], không có giàn thiêu dành cho kẻ dị giáo, không có các trại tập trung, không có cơ quan kiểm duyệt, không có trẻ em trong các hầm mỏ và không có các vụ hăm hiếp ở Bosnia.

«Quando entra in scena l’altro» in A che cosa crede chi non crede?, Rome: Atlandide Editoriale, 1996

 

Bài viết (tham khảo) bằng tiếng Việt

(Chúng tôi không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài)

1. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (LHQ): http://www.unhchr.ch/udhr/lang/vie.htm

2. Vai tṛ của sự khoan dung (Khải Thiện): http://www.thuvienhoasen.org/khoandung.htm

3. Tuyên bố ASEM về đối thoại giữa các nền văn minh (Hà Nội, 10/2004; tin của Bộ Ngoại Giao Việt Nam): http://www.mofa.gov.vn/nr040807104143/nr040807105001/ns041012093835 

 

Một số trang web bằng tiếng Anh

(Chúng tôi không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài)

1. Fight Hate and Promote Tolerance: http://www.tolerance.org/

2. International Tolerance Network: http://www.tolerance-net.org/

3. Tolerance Programme (UNESCO): http://www.unesco.org/tolerance/

 


 

2. TÔN GIÁO

Dẫn nhập

Nội dung của chương này đề cập đến một vấn đề đặc biệt "gai góc" và phần nào cần ở độc giả sự trưởng thành nhất định. V́ lư do này nên các tác giả quyết định viết chương này chỉ cho những trẻ từ 10-12 tuổi trở lên, các em này sẽ t́m hiểu vấn đề với sự trợ giúp của giáo viên.

Có ba ư tưởng cơ bản:

1. Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới.

2. Một số ư kiến cho rằng con người về bản chất là những động vật tôn giáo.

3. Có nhiều thái độ khả dĩ khác nhau về những tôn giáo khác với tôn giáo mà ḿnh đang theo.

Phần đầu tiên (nhấn mạnh đến sự đa dạng của những truyền thống tôn giáo) đề cập đến những khía cạnh cụ thể của những trải nghiệm tôn giáo (tức là những hoạt động tôn giáo). Đây là những vấn đề mà trẻ có thể tiếp cận khá dễ dàng. Trước hết chúng ta cung cấp một số khái niệm cơ bản về từng tôn giáo chính trên thế giới (trong khi quư độc giả vui ḷng gởi cho chúng tôi những tŕnh bày ngắn gọn về những tôn giáo mà chúng tôi hiện chưa có trong danh sách) những mong có thể xoá bỏ một số thành kiến đă ăn sâu trong suy nghĩ của mọi người, và đồng thời giới thiệu cho những độc giả nào quan tâm t́m hiểu thêm về các truyền thống tôn giáo những địa chỉ đặc biệt dành cho họ. Chúng tôi cũng sẽ tŕnh bày những quan điểm của những người vô thần và những người theo thuyết bất khả tri. Tiếp đến chúng tôi sẽ cố gắng khơi gợi ở mọi người một sự hiểu biết hài hoà về các truyền thống tôn giáo bằng cách so sánh đối chiếu những lễ nghi tôn giáo khác nhau. Chẳng hạn ở phần giới thiệu những lễ nghi tôn giáo đánh dấu những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời con người, chúng tôi sẽ so sánh cách mà những người theo Ấn Độ giáo, những người theo Do Thái giáo, những người theo Ki Tô giáo tổ chức cưới hỏi, ma chay, và những lễ nghi khác như thế nào.

Trong phần hai của chương này (đề cập đến những câu trả lời mà mỗi tôn giáo đưa ra cho những câu hỏi chung của nhân loại) chúng tôi sẽ cố gắng làm rơ cái lối làm thế nào mà những tôn giáo khác nhau đó có thể t́m ra được những giải pháp cụ thể khi phải đương đầu với cùng những vấn đề đang tồn tại. Hiển nhiên là chúng tôi sẽ không thể phân tích chuyên sâu những quan điểm của từng học thuyết tôn giáo về vấn đề nguồn gốc vũ trụ, sinh tử, khổ hạnh, thiện ác. Do đó chúng tôi chỉ giới hạn trong những ví dụ nêu ra, và, một lần nữa, chúng tôi cần đến quư độc giả góp ư bổ sung.

Khác với hai phần đầu với nội dung miêu tả các tôn giáo khác nhau, trong phần ba (bàn về những thái độ khả dĩ khác nhau về những tôn giáo tôn giáo khác với tôn giáo mà ḿnh đang theo) chúng tôi cũng sẽ nói đến các xung đột, ngược đăi, chiến tranh, tàn sát dưới danh nghĩa tôn giáo. Sau đó chúng tôi sẽ hỏi các em xem liệu chúng có cảm nhận được sự mâu thuẫn giữa các nguyên tắc trừu tượng của một tôn giáo cụ thể và những hành vi thực tế như vậy hay không. Mục đích là để khuyến khích các nhóm học sinh thảo luận nhằm nêu ra được những giải pháp khả dĩ cho một sự tồn tại hoà b́nh giữa các đức tin tôn giáo khác nhau.

Giống như chương trước của cuốn cẩm nang, mỗi phần trong chương này cũng được chia ra năm mục nhỏ: Ư tưởng cơ bản, Khai triển, Ví dụ, Bài tập, và Trích dẫn. Vui ḷng đọc phần Giới thiệu của Umberto Eco để hiểu thêm về mục đích của những phần này.

Ư tưởng tiền căn bản

Umberto Eco

Để bắt đầu thảo luận cái chủ đề khó khăn này về tôn giáo, người dạy trước tiên nên hỏi các em xem gia đ́nh của chúng hay hàng xóm có tham dự vào những nghi lễ tôn giáo đang được thực hành ở quốc gia của chúng hay không. Sau đó hỏi xem chúng có biết người nào thực hành những nghi lễ của một tôn giáo khác (hoặc hỏi xem chúng đă đọc ở đâu đó hay nh́n thấy trên phim ảnh, truyền h́nh những người tin theo những tôn giáo khác- cả những tôn giáo cổ xưa mà ngày nay không c̣n tồn tại, chẳng hạn như tôn giáo của những người La Mă hay người Hy Lạp cổ đại). Dựa trên quan sát cho thấy có nhiều tôn giáo khác nhau tồn tại, người dạy có thể nêu lên câu hỏi: “tôn giáo là ǵ?”.

Cảm xúc tôn giáo

Người ta nói rằng con người là động vật tôn giáo. Chúng ta không biết con mèo, con chó hay con chim nghĩ ǵ trong đầu, nhưng từ tất cả những ǵ mà chúng ta có thể quan sát thấy, động vật không có bất cứ tôn giáo nào (mặc dù một số người từng cho rằng con chó sủa trăng là v́ nó nhận ra sự tồn tại của một “cái ǵ đó” không thuộc về thế giới của nó). Ngược lại, tất cả những người mà ta biết đều cho thấy rằng họ có cảm xúc tôn giáo.

Như chúng ta sẽ thấy trong các phần sau, có những tôn giáo tin vào một vị thần duy nhất (các tôn giáo độc thần), và có những tôn giáo tin vào rất nhiều những thực thể tôn giáo khác nhau, chẳng hạn như các vị thần cổ xưa, hay linh hồn của nước của cây v.v… (các tôn giáo đa thần); có những tôn giáo có nhà thờ hay thánh đường, c̣n những tôn giáo khác th́ bày tỏ ḷng tôn kính đối với các vị thần của họ ở giữa môi trường thiên nhiên; có những tôn giáo sử dụng tranh, tượng làm h́nh ảnh đại diện cho vị thần của họ, những tôn giáo khác tôn kính họ qua một cục đá, một số khác th́ dường như chẳng có vật nào để chiêm bái, thờ phượng. Nhưng, trước khi quyết định xem thực sự tôn giáo là ǵ, chúng ta phải thiết lập bản chất của cảm xúc tôn giáo, một thứ dường như hiện hữu trong tất cả các cộng đồng nhân loại, trong qúa khứ cũng như trong hiện tại.

“Tại sao?”

Trẻ em đặt rất nhiều câu hỏi “tại sao” với cha mẹ chúng từ khi c̣n rất nhỏ. Tại sao mặt trời cho ánh sáng? Tại sao nước làm ướt đồ vật? v.v. và v.v… Cảm xúc tôn giáo có mặt khi con người hỏi chính ḿnh v́ đâu họ có mặt, hay v́ đâu mà có vũ trụ (thế giới, bầu trời, mặt trời, mặt trăng, các v́ sao) và nó được sinh ra như thế nào.

Những “tại sao” này trước hết đề cập đến qúa khứ, hiện tại, và tương lai. Nh́n về quá khứ, con người tự hỏi: phải chăng vũ trụ được ai đó tạo nên? Nghĩ đến hiện tại, họ tự hỏi ḿnh rằng họ phải sống và xử sự thế nào cho đúng với bản chất của họ, và muốn biết Tạo Hóa có giúp đỡ, bảo vệ, phán xét, ban thưởng hay trừng phạt họ không thông qua những “kẻ giúp việc” của Ngài, chẳng hạn như quỷ thần hay các lực lượng tự nhiên khác. Và v́ tất cả mọi người đều nhận thấy có những điều xảy ra không như ư muốn của họ (chẳng hạn như bịnh tật, chết chóc, mất người thân yêu hay những thứ mà họ gắn bó) nên họ tự hỏi tại sao mọi thứ trên thế gian này lại không xảy ra như ư muốn, và rằng phải chăng những điều không hay xảy đến với họ có sự đồng thuận của đấng Tạo Hóa? nếu có th́ với lư do ǵ? Cuối cùng, họ tự hỏi ḿnh: điều ǵ sẽ xảy ra với họ và với những người khác sau khi chết. Mọi thứ sẽ kết thúc trong hư vô hay đấng Tạo Hóa sẽ lo liệu?

Tất cả những câu hỏi này (mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong phần 2 của chương này) là những biểu hiện của cảm xúc tôn giáo, và từ đấy nhiều tôn giáo khác nhau đă ra đời (chúng tôi sẽ nói đến trong phần 1).

Nguyên lư siêu việt và nguyên lư nội tại

Nói chung tôn giáo thừa nhận sự tồn tại của một cái ǵ đó cao hơn chúng ta, một cái ǵ đó thiêng liêng, một cái ǵ đó chúng ta không thể sờ thấy, nhưng là một thứ rất thiết thân với chúng ta. Các tôn giáo chia thành hai nhóm, một nhóm thừa nhận nguyên lư siêu việt, nhóm khác thừa nhận nguyên lư nội tại.

Với nguyên lư siêu việt, chúng ta muốn nói đến một thần tính không thuộc vũ trụ của chúng ta và khác chúng ta về mặt bản chất. Nó có một bản chất tinh thần và sống trong trời đất. Theo một số tôn giáo, một nguyên lư siêu việt như vậy không những tạo nên vũ trụ mà c̣n phản ánh chính nó lên con người qua sự mặc khải[8], chúng ta nhận được thông qua kinh sách.

Với nguyên lư nội tại, chúng ta muốn nói đến một nguyên nhân (hay tập hợp một số nguyên nhân khác nhau) nằm trong chính vũ trụ của chúng ta, và chính nó thường được xem như là thần thánh; hay nói cách khác, người ta tin rằng có nhiều quyền lực cùng hoạt động trong vũ trụ (không khí, lửa và các sức mạnh tự nhiên khác nhau như gió, mặt trời và các v́ sao) là các khía cạnh khác nhau của cùng một chiều hướng thiêng liêng.

Những người không có niềm tin tôn giáo th́ tin vào điều ǵ?

Những người không tin vào bất cứ tôn giáo nào cũng có cảm xúc tôn giáo theo những cách nào đó. Số này bao gồm những người theo thuyết bất khả tri và những người vô thần.

Những người theo thuyết bất khả tri là những người tin rằng không thể nào trả lời các câu hỏi đặt ra ở trên. V́ thế họ không chấp nhận cách giải thích của các tôn giáo. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ xem thường những câu hỏi này. V́ thế họ cố gắng t́m kiếm những nguyên tắc sống cho chính họ (xem các hệ thống chuẩn mực đạo đức)

Những người vô thần là những người không tin là vũ trụ này do một thực thể siêu việt tạo nên, và thường th́ họ nghĩ rằng họ có thể chứng minh được điều này một cách khoa học. Họ cũng cho rằng sự mặc khải của các tôn giáo là không thể kiểm chứng được. Vài người trong số họ chấp nhận nguyên lư nội tại, nhưng cảm thấy rằng nếu thần tính là một cái ǵ đó của vũ trụ mà chúng ta đang sống th́ chẳng có Thượng Đế nào bên ngoài chúng ta cả. Tuy nhiên, cũng giống như những người theo thuyết bất khả tri, những người vô thần cũng cố gắng tuân theo những nguyên tắc sống nhất định.

Một số người không tin vào bất cứ điều thần thánh nào. Họ nghĩ rằng, v́ Thượng Đế không tồn tại, thế th́ con người được tự do làm những ǵ mà họ muốn, và để thỏa măn tất cả những ham muốn của họ, họ có thể giết người, trộm cướp hay chà đạp lên quyền của kẻ khác. Nhưng những trường hợp như thế xảy ra ít thường xuyên hơn là người ta nghĩ. Không mấy ai lại không tự hỏi ḿnh rằng điều ǵ là tốt điều chi là xấu và không cảm thấy rằng ḿnh ràng buộc với người khác qua sợi dây t́nh cảm, nghĩa vụ và những trách nhiệm chung. Điều này xảy ra bởi v́ con người về bản chất là con vật xă hội, nghĩa là họ chỉ tồn tại khi có ai khác thừa nhận, yêu thương và giúp đỡ họ. Khi tự hỏi chính ḿnh về mối quan hệ giữa ḿnh với người khác và tự hỏi tại sao họ cảm thấy gắn kết với những người đó, họ diễn tả một vài dạng cảm xúc tôn giáo, ngay cả khi họ chẳng tin vào bất ḱ tôn giáo nào.

2.1. CÓ NHIỀU TÔN GIÁO KHÁC NHAU TRÊN THẾ GIỚI

Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới: Ấn Độ giáo[9] gồm nhiều phong trào tôn giáo khác nhau; những truyền thống tôn giáo khác như Phật giáo, Giai-na giáo, đạo Sikh đă phát triển thành những tôn giáo riêng biệt bắt nguồn từ Ấn Độ giáo. Ba tôn giáo độc thần chính là Do Thái giáo, Ki Tô giáo và Hồi giáo. Một số tôn giáo lại có nguồn gốc từ những nền văn hoá cụ thể của những dân tộc cụ thể như Khổng giáo, Đạo giáo, Thần đạo[10], và các tôn giáo của thổ dân châu Phi, châu Mỹ, và châu Úc. Có những tôn giáo như Baha’ th́ kết hợp nhiều yếu tố từ nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau.

Hiển nhiên là các tôn giáo được kể ra đây vẫn chưa là tất cả. Nếu quư độc giả nhă ư hoàn chỉnh th́ có thể gởi cho chúng tôi những tŕnh bày tóm tắt của những tôn giáo chưa được đề cập nơi đây. Vui ḷng liên lạc với ban biên tập để nhận tờ hướng dẫn gởi bản tŕnh bày.

Tôn giáo và ngày tháng

Mỗi tôn giáo có một cách tính năm riêng. Chẳng hạn người Do Thái tính từ lúc được cho là thế giới ra đời (tính ngược từ năm 2001 th́ sẽ là 5761 năm); trong khi đó những người đạo Hồi lại tính từ kỷ nguyên Hegira (năm 622 theo Tây Lịch, lúc tiên tri Muhammad chạy từ Mecca đến Medina) (tính ngược từ năm 2001 sẽ là 1379 năm). Lịch hiện vẫn được dùng phổ biến trên thế giới dựa theo lịch Ki Tô giáo (Tây Lịch), trong đó năm đầu tiên là năm được cho rằng đấng Jesus Christ ra đời. Như vậy theo Tây Lịch th́ bây giờ là năm 2004[11].

2.1.1. KHAI TRIỂN

2.1.1.1. Tôn giáo là ǵ?

Khi so sánh những truyền thống tôn giáo khác nhau, bạn phải cố bỏ ra khỏi đầu những định nghĩa sẵn có của bạn về tôn giáo. Quả thật, từ "tôn giáo" có lẽ được dùng để chỉ đến ít nhất là bốn điều dưới đây:

Tôn giáo như là một tập hợp những điều thực hành: đó là tập hợp những tập quán, lễ nghi, chuyện kể, thói quen, được một nhóm người cố công vun đắp và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tôn giáo như là một cái nh́n tổng thể về cuộc sống: đó là một loạt những niềm tin, một hệ thống các quy tắc, quan niệm về đúng sai, và nói chung, đó là một cái nh́n tổng thể nào đó về cuộc sống.

Tôn giáo như là một học thuyết thần học: đó là một học thuyết lư giải mối quan hệ giữa con người và tất cả những thứ bên ngoài thực tại cụ th, nghĩa là cái chiều siêu nhiên.

Tôn giáo như là một thái độ tinh thần mang tính cá nhân: đó là quan hệ giữa một cá nhân và cái chiều hướng thiêng liêng. Cái chiều hướng thiêng liêng đó đôi khi giúp xác định toàn bộ một tôn giáo, và đôi khi giúp lư giải những đặc điểm truyền thống vốn có của một người theo cách thức mang tính cá nhân.

Tuỳ theo cái nghĩa cụ thể gắn liền với từ “tôn giáo” mà một truyền thống tâm linh nhất định nào đó có thể được xem là tôn giáo hay không. Chẳng hạn một số nhà sử học nghiên cứu tôn giáo thắc mắc là liệu Phật giáo có thể được xem như là một tôn giáo giống như Do Thái giáo, Ki Tô giáo hay Hồi giáo không, v́ nếu người ta định nghĩa tôn giáo là mối quan hệ giữa con người và đấng Siêu Nhiên th́ Phật giáo (một truyền thống tâm linh không tin vào một Thượng Đế) không phải là một tôn giáo; nhưng nếu người ta mở rộng nghĩa của từ này ra thành một tập hợp những bài giảng tinh thần và đạo đức được một cộng đồng tin theo và thực hiện hàng ngày th́ đạo Phật lại hoàn toàn là một tôn giáo.

2.1.1.2. Các tôn giáo đă thay đổi như thế nào?

Theo nhiều nhà sử học về tôn giáo th́ các tôn giáo trên thế giới không phải là những hệ thống ổn định và tuyệt đối chặt chẽ mà là những truyền thống liên tục thay đổi.

Con người ta khi đă theo một tôn giáo cụ thể và cố công truyền bá nó qua từng thế hệ thường gắn kết đời ḿnh trong một nền văn hoá và bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá đó. Nếu nền văn hoá đó thay đổi th́ truyền thống tôn giáo của nó cũng buộc phải thay đổi theo. Chẳng hạn, hệ thống đẳng cấp từng được biết đến là vô cùng quan trọng trong Ấn Độ giáo cũng đă bị Hiến Pháp Ấn Độ hiện đại xoá bỏ. Hiến Pháp này cấm tất cả mọi h́nh thức phân biệt đẳng cấp. Một ví dụ khác về sự thay đổi có thể thấy trong một truyền thống tôn giáo đó là vai tṛ của nữ giới trong đạo Phật; đức Dalai Lama[12] nói rằng cần phải xem xét lại thật chu toàn vị trí của nữ giới trong đạo Phật (trong hầu hết các tôn giáo khác, nữ giới thường có vị trí không quan trọng và phụ thuộc so với nam giới).

Sự đổi thay không phải bao giờ cũng được tất cả các thành viên trong một cộng đồng tôn giáo chấp nhận. Có đôi khi sự đổi thay c̣n tạo ra t́nh trạng li khai tôn giáo; dẫn đến sự chia rẽ trong một truyền thống tôn giáo. Điều này đă xảy ra đối với Ki Tô giáo một đôi lần; chẳng hạn khi Giáo Hội Chính Thống Giáo và Giáo Hội La Mă chính thức tuyên bố tách rời vào năm 1054, hay khi các Giáo hội Tin Lành ra đời đối lập với Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mă (bắt đầu từ thế kỉ thứ 16).

Sự tiếp xúc với các tôn giáo khác cũng có thể dễ dẫn đến sự thay đổi. Điều này xảy ra khi một số thành viên của một tôn giáo nào đó tiếp xúc với những thành viên của những tôn giáo khác. Đôi khi lại xảy ra dưới dạng trao đổi và điều chỉnh cho nhau, như trường hợp xảy ra ở Tây Ban Nha từ thế kỉ 10-12 đối với những người theo Do Thái giáo, Hồi giáo và Ki Tô giáo. Những trường hợp khác th́ sự tiếp xúc lại có thể làm nảy sinh xung đột. Điều này xảy ra khi một tôn giáo cố ép những người theo các tôn giáo khác phải chuyển đổi tôn giáo, hoặc không cho họ kính trọng các lời dạy hoặc các nghi lễ của tôn giáo họ, hoặc một số trường hợp quá đáng c̣n ngăn chặn sự qua lại của những người thuộc những tôn giáo khác.

Một số thuật ngữ:

Thuật giả kim (Alchemy)

Một tập hợp những học thuyết triết học, những ma thuật và những khảo cứu trực tiếp về tự nhiên nhằm t́m ra “viên đá của những triết gia”, tức là nguyên tắc được cho là có thể giúp lí giải những bí ẩn của cuộc sống và có thể chuyển những kim loại thường thành vàng.

Chủ nghĩa bài Do Thái (Anti-Semitism)

Sự không khoan dung đối với người Do Thái

Bồ Tát (Bodhisattva)

Đối với những tín đồ Phật Giáo Đại Thừa, Bồ Tát là người đă đạt đến giác ngộ, nhưng không nhập Niết Bàn (giải thoát) mà ở lại thế gian giúp người khác giải thoát.

Chuẩn mực đạo đức (Canon)

Một tập sao lục những văn bản liên quan đến tôn giáo, một triết lí hay một hệ thống đạo đức mà một nền văn hoá nào đó coi là nền tảng.

Lễ cắt bỏ bao quy đầu (Circumcision)

Một phẫu thuật cắt bỏ bao quy đầu (lớp da bọc ở đầu dương vật) mà nguời Do Thái và Hồi giáo thực hiện trên trẻ sơ sinh và những ai muốn chuyển sang những tôn giáo này. Việc cắt bỏ bao quy đầu không gây đau đớn lắm nếu thực hiện ở trẻ sơ sinh và không gây khiếm khuyết cho nam giới. Lễ này đă được một số dân tộc thực hiện trước cả người Do Thái, và ngày nay những người không phải là tín đồ Do Thái hay Hồi giáo cũng thực hiện v́ lư do y học.

Nguồn gốc vũ trụ (Cosmogony)

Chuyện kể tôn giáo hay lư thuyết khoa học về nguồn gốc của vũ trụ

Hoả táng/ Địa táng/ Ướp xác (Cremation/ Interment/ Embalming)

Những cách khác nhau để xử lư cơ thể của người chết; hoả táng là việc thiêu thi hài, và tro có thể được đem răi hoặc được thu lại và cất giữ; địa táng là chôn thi hài xuống đất; ướp xác là cách xử lư nhằm làm ngừng hoặc chậm lại quá tŕnh phân hủy của xác chết.

Những cộng đồng sống ly tán (Diaspora)

Sự sinh sống rải rác của một dân tộc trên thế giới do bị bắt phải rời bỏ lănh địa ban đầu. Đặc biệt là sự sinh sống rải rác của người Do Thái sau cuộc lưu đày Babylon.

Bói toán (Divination)

Đối với một số truyền thống tôn giáo phổ biến, đặc biệt là thời xưa, bói toán là một nghệ thuật nh́n thấy trước tương lai qua việc cắt nghĩa một số sự kiện có thực được cho rằng do thần thánh mang lại.

Niềm tin vào nỗ lực hợp nhất Ki Tô giáo (Ecumenism)

Một phong trào với mục đích là hợp nhất những tín đồ của các giáo hội Ki Tô giáo khác nhau.

Thuật phù thuỷ (Exorcism)

Nghi lễ tôn giáo nhằm đuổi trừ tà ma quỷ ở một người bị cho là ma quỷ ám.

Lễ ban thánh thể (Eucharist)

Nghi thức quan trọng nhất của Ki Tô giáo, do đấng Jesus đưa ra trong bữa ăn tối cuối cùng khi mà ngài đă mang những con chiên của ḿnh bánh ḿ và rượu vang, tượng trưng cho thể xác và máu của ngài. Ở giáo hội Thiên Chúa giáo và giáo hội Chính Thống người ta tin rằng khi tổ chức lễ ban thánh thể th́ thể xác và máu của Jesus Christ hiện diện trong bánh và rượu vang mặc dù h́nh thức bên ngoài của những thức đó vẫn không hề thay đổi. Một số người theo đạo Tin Lành (chẳng hạn những người thuộc giáo phái Martin Luther) rất tin điều này. Ngược lại, một số giáo hội Tin Lành coi bánh ḿ và rượu vang là những thứ biểu trưng trong đó cơ thể và máu của đấng Jesus đang "hiện diện về mặt tinh thần".

Đạo sư (Guru)

Guru trong tiếng Sanskrit có nghĩa là “thầy”, một người mộ đạo.

Kỉ nguyên Hồi giáo (Hegira, từ tiếng Ả rập là hijra)

Cuộc di chuyển của Mohammed và những tín đồ đầu tiên của ông từ Mecca đến Medina (năm 622 theo Tây Lịch), đánh dấu sự khởi đầu của kỉ nguyên Hồi giáo.

Jihad

Hay bị dịch sai là “thánh chiến”, Jidah có nghĩa là "đấu tranh cho sinh tồn". Truyền thống Hồi giáo có hai h́nh thức Jihad:

1. Đại Jihad gồm việc đấu tranh chống lại cái Ác, điều mà một người theo đạo hồi phải làm trong suốt cuộc đời của ḿnh.

2. Tiểu Jihad từng là cố gắng chống lại thuyết đa thần. Sau khi Hồi giáo bành trướng được vài thế kỷ kể từ ngày khai sinh (Heriga), người ta bắt đầu tin chắc rằng người Hồi giáo sẽ chinh phục toàn thế giới; những người đa thần sẽ bị bị buộc phải cải đạo; trong khi đó các những người Ki Tô giáo và Do Thái sẽ bị chế ngự đồng thời được bảo vệ. Một số phong trào Hồi giáo cực đoan đă lan rộng và biến khái niệm đó thành một nỗ lực chống lại những ai coi thường đạo Hồi.

Kaaba

Toà nhà bằng đá h́nh lập phương toạ lạc giữa Đại Thánh Đường ở Mecca. Theo truyền thống đạo Hồi th́ Kaaba được Abraham cùng với con trai Ishmael xây lên. Đá đen (theo truyền thống đạo Hồi là vật dung nạp tất cả tội lỗi trên thế giới) được chèn vào góc ngoài phía đông nam của Kaaba.

Chế độ một vợ một chồng/ Chế độ đa thê (Monogamy/Polygamy)

Chế độ một vợ một chồng là kiểu hôn phối mà một người đàn ông chỉ có thể cưới một người vợ và ngược lại; trong khi chế độ đa thể là kiểu hôn phối mà một người đàn ông được quyền cưới hơn một người vợ.

Pogrom

Từ "pogrom" tiếng Nga có nghĩa là "phá huỷ" chỉ những sự tàn sát theo đợt của những cộng đồng Do Thái thiểu số ở Nga, đặc biệt là trong thời ḱ cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20.

Đa thần giáo/ Độc thần giáo (Polytheism/Monotheism)

Đa thần giáo là niềm tin cho rằng có nhiều thánh thần tồn tại. Độc thần giáo tin rằng chỉ có một vị thần duy nhất. (Xem thêm bài viết của Ugo Volli).

Chủ nghĩa thuyết giáo (Proselytism)

Hành động cố thay đổi những người có những đức tin khác (hoặc không có) tin theo một tôn giáo khác, bằng cách thuyết phục hoặc đôi khi là bạo lực.

Tôn giáo (Religion)

Từ "religion" (tôn giáo) xuất phát từ tiếng La tinh "religio" có nghĩa là "tập hợp" (những thể thức hay những hành động mang tính nghi lễ).

Thuật ngữ Trung Hoa chỉ gần cùng một khái niệm là "jiao", có nghĩa là "lời giáo huấn, học thuyết, giáo dục". Trong tiếng Nhật, "religion" được gọi là "kyo": dạy.

Di vật (Relic)

Đối với Ki Tô giáo, một di vật là bất ḱ một vật hay một bộ phận cơ thể thuộc về một người đuợc coi là thần thánh hay may mắn và do đó được sùng kính.

Lễ nghi (Rite)

Từ "rite" (lễ nghi) xuất phát từ "rita” trong tiếng Sanskrit mà theo kinh Vệ Đà chỉ sự tham dự của con người vào trật tự và cấu trúc tự nhiên của sự vật hiện tượng. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu con người đều đề cập đến một trong những khía cạnh cụ thể của các lễ nghi, nhưng tất cả các ngành khoa học đó đều thừa nhận bản chất của chúng là tập hợp, lập lại và có hiệu quả. Có nhiều nguyên tắc hướng dẫn con người cách xử sự với những điều thiêng liêng. Những lễ nghi tôn giáo nhằm giới thiệu với những cá nhân hay cộng đồng một khía cạnh mà theo đó họ có thể tiếp cận với những điều thiêng liêng.(Michel Meslin, “Nghi lễ", từ điển Tôn giáo, phần II, trang 1947, Bayard 1997)

Li khai tôn giáo (Schism)

Một sự chia tách xảy ra trong một cộng đồng tôn giáo do xung đột nội bộ.

Shoah

Cuộc tàn sát dân Do Thái dưới tay của phát xít Đức trong Thế chiến thứ hai.

Học thuyết tổng hợp(Syncretism)

Sự trộn lẫn các học thuyết và những thói quen tôn giáo khác nhau để tạo nên một tôn giáo mới. Những-tôn giáo-châu Phi-hiện đại là một ví dụ xác thực của học thuyết tổng hợp. Trong tôn giáo mới này, nhiều yếu tố được lấy từ những đức tin truyền thống cùng tồn tại một cách tương đối hài ḥa với những yếu tố từ các tôn giáo du nhập (đặc biệt là Ki Tô giáo).

Singh

Singh có nghĩa là "mănh hổ"/ niềm tin dũng mănh; đó cũng chính là họ của tất cả những người theo đạo Sikh (từ giống cái tương đương với Singh là Kaur: sư tử cái).

Đạo su-fi (Sufism)

Một phong trào huyền bí của Hồi giáo. Từ "sufism" xuất phát từ từ "suf" trong tiếng Ả rập, có nghĩa là "len", và chỉ những áo dài bằng len thô mà những người cầu kinh đầu tiên của Hồi giáo đă thường hay mặc.

Yoga

Một hệ thống triết lư và phương pháp tự kiềm chế do các tín đồ Ấn Độ giáo, Phật giáo và Giai-na giáo phát triển Những người này, qua việc luyện tập một số kỹ năng cơ thể (đặc biệt là việc điều ḥa hơi thở), đă có thể đạt tới được một trạng thái tập trung cao độ, khi đó tinh thần có thể hoà hợp với cái tuyệt đối (Đại Ngă).

2.1.1.3 Các tôn giáo trên thế giới

2.1.1.3 Các tôn giáo trên thế giới

Đạo Bahá’                         Phật giáo                     Ki Tô giáo                     Khổng giáo

 Đạo giáo                            Ấn Độ giáo                         Hồi giáo               Giai-na giáo

 

 Do Thái giáo                    Thần đạo                          Đạo Sikh                     Các tôn giáo

                   truyền thống Phi Châu

 

2.1.2. VÍ DỤ

(..)

2.1.3. BÀI TẬP

(..)

2.1.4. TRÍCH DẪN

Ugo Volli: Đa thần giáo và Độc thần giáo

Đa thần giáo là một niềm tin vào một vài đấng siêu nhiên, được gọi là các thần linh. Cùng với thuyết vật linh, thuyết cho rằng thế giới này đầy những lực lượng siêu nhiên, Đa thần giáo là h́nh thức tôn giáo phổ biến nhất trong xă hội loài người. Người ta có thể nghĩ về các thánh thần dưới một vài h́nh thức khác nhau. Những câu chuyện về họ có thể vô cùng rối rắm và thậm chí tên tuổi họ c̣n có thể bị cấm nhắc đến. Điều quan trọng là những vị thánh thần đó tồn tại bên ngoài thế giới tự nhiên, không phải bằng xương bằng thịt và mang trong ḿnh những sức mạnh không giống như những thứ xung quanh chúng ta, trong khi họ vẫn là con người, tức là những nhân vật quan trọng tương tự như con người, và rằng có rất nhiều vị thánh thần như thế và do đó giữa các vị với nhau ít nhất cũng nảy sinh xung đột. Những người theo Đa thần giáo tin rằng thực tế được h́nh thành và phát triển nhờ những hành động siêu nhiên của các thánh thần và đây không phải là một kế hoạch đơn lẻ mà do xung đột và tranh đua giữa các vị mà ra. Có những vị thần thiện và cũng có những vị thần ác, có vị kiểm soát một khía cạnh nào đó của thực tại hoặc hiện hữu (chẳng hạn như thần biển, thần săn bắn, hay thần vẻ đẹp), có vị th́ kiểm soát những khía cạnh khác.

Một kiểu quan niệm tôn giáo khác khá hiếm hoi, mặc dù đă trở thành một lực lượng chủ chốt trên thế giới, là Độc thần giáo. Đó là một hệ thống trong đó người ta quan niệm thánh thần là duy nhất và mang tính cá nhân. Nguyên tắc chính của Độc thần giáo là chỉ tồn tại duy nhất một vị thần. Có lẽ vị thần đó có thể chấp nhận một số thực thể tinh thần dưới ḿnh (như các thiên thần, các vị thánh, ma quỷ), tức là họ ra đời từ vị thần duy nhất này chứ không phải độc lập tự trị. Vị thần độc nhất, người là hiện thân của tất cả các bản chất thần thánh và là một nhân vật ("ngài" không phải là một thế lực mà là một ai đó có ư chí cá nhân, có tri thức, cảm giác, vân vân) thường được xem như mang trong ḿnh những đặc tính cơ bản: là đấng tạo hoá của thế giới, là bất diệt, thông suốt, có quyền năng vô biên, công bằng, tốt bụng, vân vân.

H́nh thức độc thần giáo phổ biến trên thế giới đang tồn tại ở một số biến thể (Ki Tô giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo) là được những người Do Thái xác lập cách đây khoảng ba ngàn năm, nhưng trong lịch sử tôn giáo và triết học cũng có các h́nh thức độc thần giáo khác, chẳng hạn ở Ai Cập, Ấn Độ, Hy Lạp cổ, và trong các tác phẩm của Plato và Aristole. Thật ra, khi cho rằng chỉ tồn tại một vị thần duy nhất, Độc thần giáo đă tỏ ra phù hợp với lối phân tích về thực tế trên khía cạnh một nguyên tắc, một cơ sở căn bản, và một hệ thống đạo đức, do đó mới có thể hướng được những t́nh cảm tôn giáo khỏi những những thêm thắt sinh động của huyền thoại và đi theo con đường duy lí hơn. Tuy nhiên điểm hạn chế mà trường phái này gặp phải là khi đi lý giải những mặt phi lý và tiêu cực của đời sống. Thực ra nếu chỉ tồn tại duy nhất một vị thần th́ ngài phải chịu trách nhiệm cho tất cả mọi việc xảy ra, kể cả điều ác và những điều vô lư trong cuộc sống, những điều mà theo Đa thần giáo th́ có thể lại xuất phát từ hành động của những vị thần độc ác hoặc thậm chí do xung đột giữa các vị thần mà ra.

Trong tư tưởng văn hóa Châu Âu (hay văn hóa phương Tây nói chung), ảnh hưởng sâu sắc của các trường phái tôn giáo độc thần lên những phương diện như luật pháp, khoa học, nghệ thuật... phản ánh sự ưa chuộng tính đơn nguyên hơn là đa nguyên của các nền văn hóa này. Chỉ có sự tồn tại của một nguyên nhân được xác định rơ mang đến cho chúng ta một slư giải trọn vẹn, chỉ có một h́nh thức khép kín mới thoả măn được cảm nhận thẩm mỹ của chúng ta, v.v... và v.v... Đa thần giáo và độc thần giáo v́ thế không chỉ là các lư thuyết tôn giáo, mà chúng c̣n là những đặc điểm căn bản của cái cách mà người ta suy nghĩ.

Ugo Volli: Polytheism and Monotheism

(..)

2.2. MỘT SỐ NGƯỜI ĐỊNH NGHĨA CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT TÔN GIÁO

Khi con người băn khoăn thế giới này được tạo ra như thế nào, điều ǵ xảy ra sau khi chúng ta chết, tại sao có mặt những nỗi khổ đau, làm sao để nhận biết cái Thiện, cái Ác, nhiều người t́m thấy lời giải đáp trong tôn giáo. Khi so sánh các truyền thống tôn giáo khác nhau, chúng ta thấy rằng phần lớn những câu hỏi đều giống nhau, nhưng các câu trả lời th́ khác nhau tùy vào từng tôn giáo cụ thể.

2.2.1 KHAI TRIỂN...

2.2.1.1 Thế giới được tạo ra như thế nào?

Hàng ngh́n năm nay, con người luôn đặt câu hỏi vũ trụ này được tạo ra như thế nào, tại sao chúng ta lại có mặt trên cuộc đời này, chúng ta phải cư xử ra sao… Chúng ta sinh ra là cho một mục đích nào đó chăng, hay sự có mặt này là kết quả của một sự t́nh cờ nào đó?

Những câu hỏi nảy sinh khi người ta quan sát thấy tất cả những thứ có mặt xung quanh ta (từ những vật vô tri vô giác đến các sinh vật) được tạo ra vào một thời điểm nhất định như là kết quả của một nguyên nhân nào đó. Nhưng, đâu là nguyên nhân tối thượng?

Mỗi nền văn hóa khác nhau đưa ra những câu trả lời khác nhau cho những thắc mắc này. Hầu hết các truyền thống tôn giáo đều xây dựng nên những lư giải về giai đoạn khởi nguyên, hay vũ trụ luận, kể về nguồn gốc của thế giới. Ở đây, chúng ta sẽ bàn đến một trong những lư giải này (xem văn bản gốc của nó nằm ở phần trích dẫn).

Các nhà khoa học nói ǵ?[13]

Khoa học cũng băn khoăn về những vấn đề liên quan đến nguồn gốc của vũ trụ được giải thích thông qua tôn giáo. Nhưng thay v́ giải thích những huyền thoại về sự tạo dựng thế giới dựa theo sách Khải Huyền[14], do tổ tiên truyền miệng qua nhiều đời, hay từ những sách thánh được ghi chép lại, những nhà khoa học trong mọi thời tiến hành việc quan sát bằng những dụng cụ mà họ có được. Sau khi thực hiện nhiều thí nghiệm khác nhau, họ đi đến những giả thiết về nguồn gốc h́nh thành vũ trụ. Kết quả là, không tồn tại một vũ trụ luận khoa học đơn nhất được thiết lập một lần và đúng hoàn toàn, mà là một phức hợp các lư thuyết tiếp nối và loại trừ lẫn nhau nhằm dần tái dựng lại một bức tranh khả dĩ về “ba phút đầu tiên của vũ trụ”

Có thể xem thêm một số giải thích khoa học phổ biến ở phần trích dẫn.

Một trong những giải thích về vũ trụ được chấp nhận rộng răi nhất (đồng thời cũng gây nhiều tranh căi) là “Lư thuyết Vụ Nổ Lớn” (Big Bang), theo đó vũ trụ nguyên thủy như một cái “ḷ lửa” đậm đặc h́nh thành bắt đầu từ một vụ nổ lớn được cho rằng xảy ra đồng thời tại mọi điểm trong không gian, khoảng 15 tỉ năm về trước. Vụ nổ này tạo tiền đề cho sự tiếp tục giăn nở của vũ trụ, bằng việc sinh ra hằng tỉ các thiên hà (mỗi thiên hà được tạo nên từ hằng trăm tỉ các v́ sao)

Cách đây khoảng 4 tỉ sáu trăm triệu năm, một đám mây khí bốc cháy và trở thành một ngôi sao, đó chính là sự ra đời của Mặt Trời, được bao quanh bởi chín hành tinh trong Thái Dương Hệ. Trái Đất, một trong số các hành tinh, được tạo nên bởi một chuỗi những phản ứng hóa học cực ḱ phức tạp (phần lớn vẫn chưa đuợc biết đến), h́nh thành nên những phân tử sống cơ bản đầu tiên. Những dạng sống bậc thấp dần tiến hóa thành dạng sống bậc cao, đến những sinh vật ta thấy ngày nay, hiển nhiên có cả con người.

Nhiều tôn giáo chấp nhận những giải thích của các nhà khoa học, miễn sao nó không đi ngược lại kinh điển của họ. Theo họ, cách giải thích trong kinh điển dễ hiểu đối với những người sống ở thời cổ xưa. Những người khác, mà vị thế được mô tả như “người theo trào lưu chính thống” th́ cho rằng chỉ những lời giải thích được đưa ra trong Kinh Thánh mới là Chân Lư.

Kinh điển tôn giáo nói ǵ?

Theo như 3 tôn giáo độc thần (Do Thái giáo, Ki Tô giáo và Hồi giáo) th́ Chúa (đấng vô cùng) đă tạo nên vũ trụ hữu hạn này.

Câu chuyện trong Genesis (quyển đầu của Thánh Kinh) nói đến việc Chúa đă tạo nên thế giới, ở đó có thiên đàng và mặt đất, trong sáu ngày như thế nào. Ngày thứ nhất Chúa mang đến ánh sáng từ những nơi tối tăm, ngày thứ hai tách rời bầu trời và mặt biển, ngày thứ ba phân tách trái đất từ nước và gieo giống các loại cây trồng, ngày thứ tư tạo ra mặt trời, mặt trăng và các v́ sao, ngày thứ năm tạo nên sự sống cho các loài chim cá, ngày cuối cùng Chúa h́nh thành ra các loài sinh vật trên mặt đất và con người. Chúa tạo nên con người từ ư tưởng riêng của ḿnh và gần như tương tự nhau để họ có thể thống trị được tất cả mọi loại sinh vật khác.

Theo Ấn Độ giáo, vũ trụ là vĩnh hằng, nó không được tạo nên cũng sẽ không mất đi, mà vận hành theo một qui tŕnh tuần hoàn tự sinh rồi tự hoại. Sau một quá tŕnh giăn nở không ngừng, thường mất hàng triệu năm, vũ trụ (hay Hiện Thể) thu nhỏ thêm vài triệu năm nữa, cho đến khi một lần nữa trở thành Phi Hiện Thể, ở đây không nghĩa là Hư Không mà là một dạng chaos (trạng thái hỗn độn, vô trật tự). Sau đó, cái Phi Hiện Thể này, vốn là phần c̣n lại của Hiện Thể thực sự hay ở dạng tiềm ẩn, chuyển đến một giai đoạn giăn nở khác và do đó bước vào một giai đoạn khác của vũ trụ.

Dưới ánh sáng của quan niệm về vũ trụ vô hạn này, chúng ta nên xem xét thêm những mô tả trong Kinh Vệ Đà liên quan đến vấn đề khởi nguyên của thế giới. Trong Rigveda (X, 129) vấn đề nguồn gốc vũ trụ sẽ làm nảy sinh một tranh luận triết học nan giải về điều bí ẩn trong mối quan hệ giữa Hiện Thể Phi Hiện Thể.

Trong một bài kinh Vệ Đà khác (Rigveda, X, 90), câu chuyện kể về Purusa, một người khổng lồ có một ngh́n cái đầu, một ngh́n đôi mắt, một ngh́n chân, đă hiến ḿnh như một tặng vật và rồi từ những phần của cơ thể ông ta mà mọi thứ được sinh ra.

Có thể t́m thấy mô-típ về sự tạo nên vũ trụ nhờ sự phân cách của một vật sống khổng lồ trong các câu chuyện cổ Trung Quốc, theo đó mọi vật đều có nguồn gốc từ một vị thần khổng lồ Pangu, đó là thần trụ trời, sinh vật đầu tiên trên mặt đất, ngay từ khi sinh ra đă đứng sừng sững như một cây cột chống trời, chia tách bầu trời và mặt đất. Sau khi vị thần này mất đi, những phần khác nhau của cơ thể ông ta trở thành những hiện tượng khác nhau trong tự nhiên và mọi dạng thức trong đời sống: hơi thở của ông ta tạo nên gió và mây, giọng nói làm ra sấm, chớp, mắt trái là mặt trời, mắt phải là mặt trăng, bốn phương trời, rừng núi h́nh thành từ tứ chi và thân thể của vị thần, máu thành sông, những mạch huyết quản biến thành đường sá, da thịt tạo ra trái đất, mái tóc hóa những v́ sao, xương và răng của ông thành kim loại và đất đá, mồ hôi làm nên những giọt sương, và con người th́ được sinh ra từ những kư sinh trùng sống trên cơ thể ông.

Cách thức h́nh thành vũ trụ có thể có nhiều dạng khác nhau, đôi khi được hiểu là cách thức mô phỏng một dạng vật chất ban đầu. Do vậy, những người Anh-điêng sống ở vùng thung lũng hạ lưu sông Yakima[15] mô tả việc Đức Chúa Trời tạo nên núi non bằng những nắm bùn đất, và cũng dùng chính những chất liệu đó để “nặn” ra loài người.

Theo tín ngưỡng Thần đạo, thế giới ra đời (trùng với sự khai sinh ra nước Nhật) khi thần Izanagi cùng chị gái của ông, Izanami, dùng thanh giáo của ḿnh nhào nặng những khối không rơ h́nh thù của trái đất cho đến khi chúng cô đặc lại. Những mẩu sót trên đầu mũi giáo h́nh thành nên phần chính ḥn đảo Nhật Bản, họ tiếp tục tạo ra những đảo nhỏ hơn cùng những thế lực siêu nhiên. Cuối cùng, Izanagi nhập Thiên Đàng, dành phần cai quản bầu trời cho nữ thần mặt trời Amaterasu, thần mặt trăng Tsukiyomi quản lư thế giới vào đêm và thần băo tố Susanoo thống trị đại dương, trong khi Izanami đi xuống âm ty.

Ở những truyền thống khác, sự tạo thành thế giới đồng nhất với việc gọi tên sự vật, làm cho chúng hiện hữu.

Ư niệm này được t́m thấy trong những tôn giáo bản địa của người Úc, theo đó, từ thuở ban đầu mọi dạng thức của đời sống (“tổ tiên”) đều tồn tại ở trạng thái “tĩnh” dưới bề mặt trái đất, ẩn trong những hố bùn. Cho đến một ngày, mắt trời chui ra khỏi cái hố của ḿnh, và bằng cách sưởi ấm trái đất, mặt trời đánh thức ông bà, tổ tiên của nó ra khỏi những chiếc hố và bắt đầu ca hát, đi lại…Những bài hát của họ tạo nên sự sống cho vạn vật, họ đi gieo rắc âm nhạc khắp nơi để biến thế giới thành một bản đồng ca hoà hợp.

Theo một số triết gia thời cổ đại, trong đó có Plato cho rằng thế giới này không phải do Thượng đế trực tiếp tạo nên mà do một trong số những người hầu cận của Ngài là Demlurge. Sau đó, vào những thế kỷ đầu tiên của Ki Tô giáo, ư tưởng này là nguồn gốc cho những giải thích (được xem là dị giáo trong nhà thờ) như của các nhóm Neoplatonics và Gnostics[16], rằng Chúa là một cái ǵ đó không tiếp cận được và không nhận thức được nhưng có thể “chuyển hóa được”, nói cách khác, Chúa biến đổi dần dần chính ḿnh thành những trạng thái thấp hơn của vũ trụ, từ những thực thể tâm linh như các thiên thần hay những thế lực siêu nhiên thấp hơn khác, cho đến vật chất. Một trong những hoá thân trung gian đó là Demiurge, người tạo nên thế giới nhưng lại làm hỏng mất nó. Điều này giải thích cho sự có mặt của những cái xấu xa trên thế giới. Việc làm của những người chính nghĩa nhờ đó sẽ giải phóng bản thân họ khỏi sự bạo hành vật chất (vốn tự nó là xấu) và quay về với bản thể thuần khiết của Chúa.

Nhưng không phải tôn giáo nào cũng có vũ trụ luận. Đôi khi câu hỏi về nguồn gốc thế giới được để mở một cách có chủ ư. Theo Phật giáo, nguồn gốc thế giới (hữu hạn hay vô hạn) là một câu hỏi đưa ra không có câu trả lời. Một người bị thương v́ một mũi tên th́ trước hết không cần biết ai đă bắn ḿnh, cũng không cần biết ḿnh bị bắn bởi cái thứ chi. Quan trọng nhất là chữa trị vết thương, làm cho đỡ cảm thấy đau đớn. Tương tự, người ta cần có một con đường giải thoát ḿnh khỏi những nỗi khổ đau, chứ không phải cứ đi trả lời cho những câu hỏi bất khả luận.

2.2.1.2. Điều ǵ xảy ra sau khi chúng ta chết?

T́nh cảm tôn giáo nảy sinh từ ư thức của con người về sự hữu hạn của đời sống và từ niềm hy vọng về một điều ǵ đó sau khi chết. Theo những nhà nghiên cứu về tôn giáo, khởi thủy của tôn giáo có thể truy nguyên về lại thời ḱ khi mà những người nguyên thủy bắt đầu biết chôn cất những người chết, và bằng cách đó phân biệt bản thân ḿnh với những loài động vật khác (động vật không ư thức được cái chết của chúng và không quan tâm đến những con đă chết) đồng thời chỉ ra rằng họ đă gởi theo đó một thông điệp có ư nghĩa vô cùng quan trọng từ nơi chúng ta đang sống đây đến thế giới sau khi chết. Những nghi thức tang lễ kèm theo việc chôn cất, hỏa táng, thả tro thi hài người chết trên sông, biển, và những phương thức xử lư khác cho người đă khuất. tạo nên một sự nối kết về mặt tâm linh giữa người sống và thế giới bên kia, đồng thời mang lại cho chúng ta một h́nh dung về những ǵ sẽ xảy ra sau khi chết.

2.2.1.2.1.Thế giới bên kia : Thiên đường và địa ngục

Theo quan điểm của ba trường phái tôn giáo độc thần, vào giây phút ĺa đời, linh hồn con người sẽ hoàn toàn rời bỏ thân xác cũng như rời bỏ cơi đời này để về với Chúa. Mỗi tôn giáo có quan niệm mỗi khác về thế giới bên kia, và trong cùng một truyền thống tôn giáo cũng có thể có những nh́n nhận khác nhau về điều này.

Trong Pentateuch (Kinh Thánh của người Ki Tô giáo và Do Thái giáo) không nêu rơ điều ǵ sẽ xảy ra cho con người sau khi chết nhưng nhấn mạnh đến những sự hồi sinh sau lời phán xét của Đấng toàn năng. Ư niệm về Địa ngục chỉ được nhắc đến trong những văn bản sau này. Theo đạo Do Thái cổ, linh hồn những người đă chết nhập vào cùng nhau để tạo nên một thế giới của những âm hồn. Vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, một số các trường phái tư tưởng đă đưa ra quan điểm của ḿnh về số phận sau này của người đă khuất phần lớn sẽ được định đoạt dựa theo cách họ đă sống ra sao trước đó, sau khi lưu trú ở cơi Âm ty môt thời gian, linh hồn của những người lương thiện sẽ được lên Thiên Đàng, c̣n những kẻ gian ác sẽ bị đày xuống Địa ngục. Những trường phái khác th́ cho rằng những h́nh phạt nghiêm khắc đối với những kẻ có tội sẽ chỉ là tạm thời, để họ chuộc lại lỗi lầm đă phạm, sau khi thi hành xong những h́nh phạt đó họ sẽ đựợc đón nhận lên Thiên Đàng. Tuy nhiên, đối với những tội lỗi quá nghiêm trọng, linh hồn của kẻ có tội sẽ bị đọa đày rất man rợ, ít nhất cho đến Ngày Phán Xét.

Theo Ki Tô giáo, những người tốt lên Thiên Đàng sẽ được tận hưởng một trạng thái hạnh phúc vĩnh viễn, c̣n kẻ ác bị đày xuống địa ngục sẽ phải chịu những đ̣n tra tấn khủng khiếp. Vào thời Trung Đại, giáo lư Thiên Chúa bổ sung thêm một vị trí trung gian, nơi dành cho những linh hồn có tội ăn năn, hối cải về những lỗi lầm của ḿnh trước khi họ được đón nhận lên Thiên Đàng. Những người theo đạo Tin Lành và Chính Thống Giáo th́ không chấp nhận quan điểm về sự hối cải.

Hồi Giáo th́ tuyên bố những ai không tin có mặt Đấng tối cao duy nhất sẽ bị thiêu cháy ở địa ngục. Khi một người chết, linh hồn anh ta sẽ được hai thiên thần thẩm vấn thuật lại tuyên xưng Đức Tin của ḿnh, nếu không làm được điều này sẽ bị đày vào địa ngục. Vào ngày Phán Xét cuối cùng, Thượng Đế tiến hành xem xét loài người, những người xứng đáng sẽ được ban ân huệ diện kiến dung nhan của Người.

2.2.1.2.2. Sự tái sinh

Nhiều tôn giáo cho rằng linh hồn con người phải trải qua rất nhiều lần tái sinh trước khi đạt đến sự giải thoát, nói cách khác là chấm dứt ṿng sinh tử luân hồi. Tin rằng linh hồn con người có sự luân hồi là một đặc trưng nổi bật xuất phát từ Ấn Độ giáo.

Người theo Ấn Độ giáo và Giai-na giáo tin rằng khi chết tất cả mọi sinh vật sẽ được đầu thai ở một cơ thể khác, một con vật khác, một loại thực vật, hay là một con người khác. Chuỗi những đời sống luân phiên, nối tiếp như vậy mang lại một cái nh́n đầy bi kịch về sự khát khao được giải thoát. Sự giải thoát (moksha) bao hàm trong việc khám phá ra bản chất ảo tưởng của cái tôi cá nhân (atman, tiểu ngă), để thể nhập vào Brahman (Đại Ngă).

Theo Phật giáo, 49 ngày sau khi chết, linh hồn sẽ lang thang vật vờ giữa Cơi Sống và Cơi Chết để bắt đầu cho cuộc đầu thai mới vào một cơ thể khác được quyết định bởi cơ chế Nghiệp Báo (karma). Cũng giống như trong Ấn Độ giáo, mục đích tối cần của đạo Phật là chấm dứt sinh tử luân hồi, đạt đến trạng thái đoạn tuyệt khổ đau, hay Niết Bàn (Nirvana).

Người Sikh cũng tin vào sự tái sinh, mặc dù theo quan niệm của họ “giải thoát” không bao gồm việc diệt trừ cái bản ngă của ḿnh mà bằng việc thể nhập linh hồn với Thượng Đế.

2.2.1.2.3 Tổ tiên

Trong một vài hệ thống tôn giáo, cái chết được xem như sự tiếp nối của mỗi cá nhân để trở về cùng tổ tiên. Tổ tiên đóng vai tṛ trong đời sống con cháu của ḿnh bằng cách liên lạc trực tiếp với họ, bảo vệ (hay trong một số trường hợp là chống lại), tán thành hay không tán thành những hành động của họ và có mặt khi trong gia đ́nh có việc cần cầu khấn đến tổ tiên trong những nghi lễ cầu an.

Những tôn giáo truyền thống Trung Hoa cho rằng không có một sự phân biệt rạch ṛi nào giữa thế giới của người sống và người chết, người chết không từ bỏ thế giới người sống mà trở thành tổ tiên và như vậy họ tiếp tục tham gia vào đời sống mọi mặt của gia đ́nh mà họ đă sinh ra bằng cách bảo vệ và chỉ dẫn cho thế hệ con cháu ḿnh. Trong xă hội truyền thống Trung Hoa, mỗi nhà đều có bàn thờ trên đó có đặt những tấm bài vị khắc tên và những chiến công hiển hách của cha ông họ. Những quyết định quan trọng, ví dụ như chọn con dâu được diễn ra trước sự chứng kiến của tổ tiên và nghĩa vụ cao cả của những người c̣n sống là sinh con đẻ cháu nhằm duy tŕ tính liên tục của ḍng họ và giữ cho những kí ức về tổ tiên được sống măi. Năm thế hệ tổ tiên sẽ được cùng thờ phụng trong nhà, khi người đứng đầu trong gia đ́nh mất đi, bài vị của thế hệ lâu đời nhất sẽ được đốt để thay bằng người mới mất này. Tuy vậy, sức mạnh tổ tiên vẫn không bị phân tản bởi tên của vị (mà bài vị vừa đuợc đốt) đó sẽ được dùng để đặt tên cho đứa bé tiếp theo sinh ra trong gia đ́nh.

Theo các tôn giáo truyền thống Phi châu, người chết không biến mất khỏi hành tinh sống này mà tiếp tục tham gia vào đời sống của con cháu họ dưới h́nh thức những “linh hồn hộ mệnh”. Tuy nhiên, không phải người chết nào cũng trở thành tổ tiên, đó là trẻ em, người “điên loạn”, “bất b́nh thường”, hay những người có hành động phá hoại cộng đồng. Bên cạnh đó, trong nhiều xă hội Châu Phi, những người chết thảm hay chết trong những hoàn cảnh bí ẩn cũng không trở thành tổ tiên. Họ bị xem như những linh hồn lang bạt, thường là mối đe doạ cho cộng đồng.

Tổ tiên có những cá tính riêng biệt, họ có thể rất nhân từ hay bẳn gắt, nóng nảy hay dịu dàng…Người già có những mối liên hệ trực tiếp với tổ tiên của ḿnh, thông qua đó họ làm cầu nối chuyển tải những lời khuyên hay điều cần ngăn cấm đến cộng đồng. Nếu con người làm trái với ư muốn của tổ tiên, hay không lưu tâm đến chúng, các bậc tiền bối sẽ nổi giận và thể hiện sự phẫn nộ của ḿnh bằng cách gây ra những thảm họa (như bệnh tật, hạn hán…). Khi một đứa bé được sinh ra, đó cũng là dịp để tôn vinh tổ tiên. Trong thực tế, các bậc cha mẹ hoàn toàn có thể đặt tên con cái ḿnh theo một vị tiền bối mà họ đặc biệt tôn quí. Cũng có khi tổ tiên đích thân “báo” cho các bậc cha mẹ họ mong muốn đứa trẻ sẽ được đặt theo tên của ḿnh. Việc đặt tên có ư nghĩa rất quan trọng ở Châu Phi bởi nó quyết định đến đặc tính cá nhân của trẻ. Người ta cho rằng đứa trẻ không chỉ mang tên mà c̣n có được cả những đặc điểm về nhân cách của người mà chúng được đặt tên theo.

Tổ tiên là người ǵn giữ những truyền thống của cộng đồng, và tiếp tục giữ vai tṛ trung tâm trong nhóm họ đă sống, thực hiện những trách nhiệm của ḿnh đối với con cháu. Cộng đồng bày tỏ sự tôn kính tổ tiên thông qua việc tạo ra nhiều nghi lễ nhằm giữ được mối quan hệ với thế giới tâm linh được sống măi.

2.2.1.2.4. Hư vô

Những nguời không tin vào Thượng Đế tối thượng phủ nhận việc linh hồn tái sinh và cho rằng không c̣n ǵ nữa sau khi chết. Ít nhất, chỉ c̣n lại những hồi ức về người đă khuất đọng lại trong tâm trí của những người đang c̣n sống. Thời Hy Lạp cổ đại, Epicurus[17] từng nói: “Khi ta sống th́ không có cái chết. Khi cái chết đến th́ không c̣n ta”. V́ vậy chúng ta đừng nên e ngại về cái chết.

2.2.1.3.Tại sao chúng ta khổ đau?

Con người nhận thức từ rất sớm rằng đă sinh ra trên đời cũng đồng nghĩa chấp nhận khổ đau. Trong tất cả các tôn giáo, vấn đề cốt yếu không phải là trốn tránh khổ đau mà làm cho chúng trở nên có thể chịu đựng được. Một trong những cách xử lư đối với cái chết, bệnh tật, đau đớn về thể xác, mất mát (của cải hay những người thân yêu của ḿnh), hay mất đi những thứ chúng ta ham muốn mănh liệt… là t́m ra một lư giải nhằm biện minh cho những khổ đau đó.

(..)

2.2.4.4.Cái ǵ là tốt, cái ǵ là xấu?

Mỗi truyền thống tôn giáo đều đưa ra một loạt những nguyên tắc đạo đức xác định cái ǵ là tốt, cái ǵ là xấu, và không cần thiết phải có sự tương đồng về khái niệm rằng hành vi được xem là tích cực (hay tiêu cực) trong tôn giáo này sẽ được xem là tương tự trong những tôn giáo khác.

Trừ ra một số nguyên tắc là trụ cột hệ thống đạo đức của mỗi tôn giáo (ví dụ như Muời Điều Răn dành cho người theo Do Thái giáo và Ki Tô giáo), những nguyên tắc đạo đức không hoàn toàn bất di bất dịch và, đôi khi, c̣n được chuyển đổi lại cho phù hợp với những thay đổi về văn hóa và khả năng thích ứng của cộng đồng. Do đó, trong truyền thống tôn giáo cổ, người ta có thói quen dùng con người để tế các vị thần nhằm làm vui ḷng họ nhưng dần dần nhận thấy luật lệ này là quá sức nhẫn tâm, người ta đă quyết định thay thế nạn nhân con người bằng động vật. Và rồi đến khi con người cảm nhận đựơc những khổ đau mà con vật phải gánh chịu, những nghi lễ hiến tế này dần dần đến phiên chúng bị loại bỏ trong những tôn giáo truyền thống.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, trong nội bộ những cộng đồng tôn giáo, có trường hợp người có hành vi lương thiện, kẻ độc ác, và cũng có những người không tin vào một tôn giáo nào chỉ cống hiến cuộc đời ḿnh để mang lại điều tốt đẹp cho người khác

2.2.1.4.1. Những hệ thống chuẩn mực đạo đức

Mỗi một tôn giáo khác nhau đưa ra những con đường khác nhau về sự cứu rỗi, chuộc tội hay giải thoát nhằm trả lời cho câu hỏi làm thế nào con người có thể đoạn tuyệt được những nỗi khổ đau của chính ḿnh và người khác. Nh́n chung, có thể thấy linh hồn được cứu rỗi theo ba con đường chỉ ra sau:

- Con đường hành động: Một vài tôn giáo đưa ra những giá trị đạo đức nền tảng cho tín đồ của ḿnh và hướng họ đến việc thi hành những cấm điều.

- Con đường niềm tin: Một số th́ nhấn mạnh để đạt được sự cứu rỗi thật sự, con người cần có đầy đủ niềm tin, sự tuân phục, t́nh yêu và sự hiến dâng đối với Chúa.

- Con đường trí tuệ: Theo một số truyền thống tôn giáo, kiến thức có được (nhờ nghiên cứu, thiền định...), cho phép mỗi cá nhân thấu suốt được bản tính vô thường của vạn vật, nhờ đó tiến đến gần hơn với thế giới thần thánh.

Liên quan đến những chuẩn mực đạo đức, ở đây chúng ta qui những điều đă nói trên về con đường đầu tiên (con đường hành động): Vậy đâu là cư xử đúng đắn nhất?

(..)

2.2.1.4.2 Quy tắc vàng

Có một tiêu chuẩn đạo đức nào chung cho mọi tôn giáo không? Quy tắc vàng (điều ǵ không muốn xảy ra cho ḿnh th́ đừng đem đến cho người khác) được t́m thấy trong kinh điển nhiều tôn giáo. Thánh Kinh của người Do Thái (Leviticus 19.18) nói : “Yêu người như yêu ḿnh ”; Kinh Phúc Âm có viết : “Bất kỳ điều ǵ ta muốn người khác làm cho ta, th́ ta cũng phải làm như vậy đối với họ” (Matthew 7.12); Hồi giáo cho rằng : “Kẻ nào ḷng dạ hẹp ḥi ngay cả với anh trai ḿnh th́ kẻ đó không phải là một tín đồ đạo Hồi ” (The Forty Hadith of al-Nawawi 13); Ấn Độ giáo cung hiến: “Này các bậc thiện tri thức, đây là pháp tối thượng: nếu ta khao khát được sống một đời sống như thế nào th́ hăy để cho đời sống của các sinh vật khác được như thế ấy” (Mahabharata, 13.116.2); đạo Giai-na cho rằng : “Người ta phải đối xử với tất cả những sinh vật khác theo cái cách mà họ muốn được người khác đối xử với ḿnh như thế “(Sutrakritanga, 1.11.33); Nho giáo th́ lấy quan niệm về ren (người quân tử) làm tư tưởng chủ đạo, cốt yếu lấy việc nghĩa làm trọng, người quân tử không bao giờ làm điều ǵ cho người khác mà trái với lương tâm ḿnh. Ngạn ngữ Yoruba (Nigeria) có câu: “Kẻ nào có ư định bắn một con chim nhỏ bằng mũi tên nhọn trước hết phải kinh qua điều đó để biết được đau đớn như thế nào”

2.2.2 VÍ DỤ

(..)

2.2.3 BÀI TẬP

(..)

2.2.4 TRÍCH DẪN

(..)

2.2.4.3.6. Umberto Eco, “Khi kẻ khác có mặt

Những ngành khoa học nhân văn có tính thế tục[18] nhất dạy chúng ta rằng, chính kẻ Khác, và cái nh́n của hắn xác định chúng ta và tạo nên chúng ta. Cũng như chúng ta không thể sống mà không ăn không ngủ, chúng ta không thể hiểu ḿnh là ai nếu thiếu cái nh́n và phản ứng của kẻ khác. Ngay cả những kẻ từng giết người, hăm hiếp, cướp bóc hay áp bức kẻ khác trong những lúc nào đó cũng sống phần đời c̣n lại trong sự khẩn nài có được sự công nhận, ḷng yêu thương, sự tôn trọng và ngợi ca từ những người chung quanh. Thậm chí, họ còn muốn những người đã bị mình làm nhục cũng phải thừa nhận sự sợ hãi và tuân phục. Thiếu sự công nhận này, một đứa trẻ mới sinh bị bỏ lại trong rừng không trở nên người được (hay như Tarzan dù là một con khỉ cũng kiếm t́m kẻ Khác bằng mọi giá), và nếu tất cả những người trong cộng đồng ta sống đều đồng loạt không nh́n chúng ta hay đối xử với ta như thể chúng ta chưa hề tồn tại th́ chúng ta hóa điên hoặc chết mất.

Vậy th́ tại sao vẫn có hoặc từng có những nền văn hoá chấp nhận chuyện tàn sát, ăn thịt đồng loại, hoặc lăng nhục cơ thể kẻ khác? Đơn giản chỉ v́ những nền văn hoá đó giới hạn khái niệm "kẻ Khác" chỉ trong phạm vi cộng đồng bộ lạc (hay nhóm chủng tộc) và coi những "kẻ man rợ" không phải là người; nhưng ngay cả những kẻ tham gia thập tự chinh cũng không cảm thấy rằng đồng bào không theo đạo của ḿnh càng đáng được yêu thương. Quả thật là việc nh́n nhận vai tṛ của kẻ khác, sự cần thiết phải phải tôn trọng ở họ những yêu cầu mà chúng ta thấy thiết yếu cho chính ḿnh là sản phẩm của hàng ngàn năm phát triển.

[…]

Cái cảm giác (về kẻ Khác) này có thực sự đủ mạnh để phán xét một hệ thống đạo đức là xác định và bất di bất dịch, là được thiết lập một cách vững chắc như hệ thống đạo đức của những người tin vào luân lư được mặc khải, vào sự tồn tại của linh hồn, vào thưởng phạt không? Tôi đă thử đặt những nguyên lư của một hệ thống đạo đức thế tục vào một thực tại tự nhiên […] giống như xác thân chúng ta và cái ư tưởng rằng chúng ta biết theo bản năng là chúng ta có một linh hồn (hoặc cái ǵ đó tương tự vậy) chỉ qua sự có mặt của kẻ Khác. Lúc đó dường như những ǵ tôi đă định nghĩa như là một "hệ thống đạo đức thế tục" lại thực sự là hệ thống đạo đức tự nhiên, điều mà thậm chí những người có niềm tin tôn giáo cũng không thể phủ nhận được. Chẳng phải bản năng tự nhiên, điều đă mang lại một mức độ tương thích cho sự trưởng thành và khả năng tự ư thức, là nền tảng mang lại những đảm bảo đầy đủ sao? Dĩ nhiên chúng ta có thể nghĩ rằng đây là một sự khuyến khích không đầy đủ đối với, "trong bất ḱ trường hợp nào", những người không có niềm tin tôn giáo có thể nói, "không ai sẽ biết đến tội ác mà tôi đang bí mật thực thi". Nhưng lưu ư một điều, những người không có niềm tin tôn giáo nghĩ rằng việc họ làm chẳng có ai thấy cả và do đó họ cũng biết rằng, chính xác là v́ lư do này, thậm chí sẽ không có "ai đó" có thể tha thứ. Nếu những người này biết rằng họ đă làm những điều tệ hại th́ nỗi cơ đơn của họ sẽ không hề dứt và cái chết của họ sẽ vô cùng tuyệt vọng. Họ sẽ chọn, hơn cả những kẻ có niềm tin tôn giáo, sự rữa tội bằng việc thú nhận trước công chúng, họ sẽ xin sự tha thứ từ kẻ khác. Họ biết điều này, tận trong sâu thẳm nhất của con người họ, và v́ thế họ biết rằng họ nên tha thứ kẻ khác trước. Nếu không th́ làm sao chúng ta có thể giải thích rằng người không có niềm tin tôn giáo cũng biết ăn năn?

 […]

Đây là lư do tại sao tôi tin rằng, trên những điểm căn bản, một hệ thống đạo đức tự nhiên, được tôn trọng v́ niềm tin sâu sắc khơi nguồn nó, có thể có cùng nền tảng với những nguyên tắc của một hệ thống đạo đức h́nh thành trên niềm tin vào tính siêu việt, một hệ thống không thể không nhận ra rằng những nguyên tắc tự nhiên đă khắc sâu trong tâm khảm chúng ta trên cơ sở của một kế hoạch hướng đến sự cứu rỗi. Nếu như điều này để lại những giới hạn không chồng lấp nhau, mà hiển nhiên là vậy, th́ cũng chẳng khác so với những ǵ xảy ra khi những tôn giáo khác biệt gặp nhau.

Umberto Eco, "When the Other Comes onto the Scene", in Five Moral Pieces, New York, Hartcourt-Brace, 2001 (bản Anh ngữ của Alastair McEwen)

(..)

2.3. CÓ THỂ CÓ NHỮNG THÁI ĐỘ KHÁC NHAU ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI THUỘC VỀ MỘT TÔN GIÁO KHÁC

Cũng là điều b́nh thường khi người ta cho rằng tôn giáo của ḿnh là hay hơn tôn giáo của người khác. Tuy nhiên, có những thái độ khác nhau khả dĩ đối với những người thuộc về một tôn giáo khác.

2.3.1 KHAI TRIỂN…

Hăy tưởng tượng có một xă hội giả tưởng- ta gọi nó là XXX- gồm những người chưa bao giờ tiếp xúc với các nhóm người khác. Trong khoảng thời gian kéo dài vài thế kỷ, xă hội XXX đă xây dựng nên một số các niềm tin để giải thích nguồn gốc thế giới, tại sao chúng ta đau khổ, và điều ǵ xảy đến sau khi chết. Thêm vào đó, họ phát triển một hệ thống các chuẩn mực đạo đức cho biết điều ǵ là tốt đẹp điều ǵ là xấu xa, và quy định những quy tắc hành xử khác nhau mà tất cả các thành viên của cộng đồng phải tuân theo. Những niềm tin trong xă hội XXX được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới h́nh thức những câu chuyện kể, những lễ nghi, luật lệ, phong tục v.v… Lẽ dĩ nhiên, xă hội XXX rất tin tưởng vào sự tuyệt đối đúng đắn của những niềm tin đó, và họ duy tŕ niềm tin tưởng rằng những chân lư này được trao truyền bởi những thần linh mà họ thờ phụng.

Rồi một ngày kia, trên địa bàn sinh sống của xă hội XXX, có một nhóm người khác xuất hiện mà ta gọi là YYY. Cũng như XXX, những người YYY này cũng đă tự tạo nên một cái nh́n về cuộc sống, một cách h́nh dung về thần thánh và một tập hợp những điều thực hành khác với những điều mà những người sống trong xă hội XXX tin tưởng. Xă hội YYY cũng tự hỏi thế giới được tạo nên như thế nào, tại sao chúng ta đau khổ, điều ǵ xảy ra sau khi chết, điều ǵ tốt đẹp điều ǵ xấu xa, nhưng họ có những câu trả lời không giống với những câu trả lời của xă hội XXX. Xă hội YYY cũng tôn trọng những điều cấm và những luật lệ ứng xử, nhưng phong tục của họ th́ khác với phong tục của xă hội XXX. Chẳng hạn, trong xă hội YYY, người ta có thể ăn tất cả các loại hoa qủa ngoại trừ loại có màu đỏ (được cho là ô uế), trong khi đó tôn giáo của xă hội XXX cho rắng loại hoa quả duy nhất tuyết đối không được ăn là loại có màu vàng.

Khi họ tiếp xúc lẫn nhau, những người XXX và YYY nhận ra rằng nhiều trong số những niềm tin mà họ đề cao không đúng trong xă hội kia. Bằng cách so sánh hệ thống các niềm tin với nhau, mỗi truyền thống xác định những đặc tính cụ thể của nó và bắt đầu ư thức đến sự tồn tại của chính nó như là một tôn giáo.

Điều ǵ xảy ra khi những người XXX và YYY gặp nhau và lần đầu tiên trải nghiệm qua sự khác biệt của nhau? Ở một mức độ nào đó, những ǵ xảy ra phụ thuộc vào thái độ (thân thiện hay thù địch) khi nhóm này chào đón nhóm kia: sự gặp gỡ giữa các tôn giáo trước hết là sự gặp giữa những con người. V́ thế, nếu XXX chào đón YYY hay người YYY chào đón người XXX với tặng vật và dấu hiện của t́nh hữu nghị, th́ rất có thể rằng cảm giác về sự rộng lượng và sự tin tưởng lẫn nhau sẽ được thiết lập giữa hai tôn giáo. Trái lại, nếu một trong hai nhóm muốn chinh phục hay nô dịch nhóm kia th́ rất có thể rằng sự bất đồng, nếu không nói là thù địch ra mặt, sẽ nổi lên giữa hai nhóm.

Có một điều hoàn toàn tự nhiên là cả hai xă hội XXX và YYY đều cho rằng tôn giáo của họ là hay (đúng đắn, chính đáng) hơn tôn giáo kia. Vấn đề đối với mỗi nhóm là: đó là tôn giáo của cha mẹ họ và v́ thế phủ nhận chân lư tuyệt đối của tôn giáo đó đồng nghĩa với sự phản bội lại di sản tinh thần của tổ tiên. Tuy nhiên, niềm hănh diện chính đáng về tôn giáo của ḿnh ở mỗi nhóm có thể tạo nên những thái độ khác nhau về những người theo tôn giáo kia.

Trong xă hội XXX, cũng như trong xă hội YYY, có những người sẵn ḷng tiếp xúc trong ḥa b́nh với nhóm kia, và có cả những người cảm thấy bị đe dọa bởi những kẻ xa lạ. Để t́m ra cách tốt nhất để đối phó với những người YYY, những vị chức sắc trong xă hội XXX tổ chức một cuộc họp và tranh luận đă nổ ra với nhiều ư kiến khác nhau.

“THƯỢNG ĐẾ CỦA TÔI LÀ DUY NHẤT”

Hầu hết những người XXX tin tưởng mạnh mẽ vào sự tuyệt đối đúng đắn của tôn giáo họ, và không chấp nhận rằng tôn giáo của xă hội YYY cũng có thể đúng theo cách của nó.

Qủa thật, họ cho rằng, làm sao mà hai tôn giáo khác nhau rành rành, có những quy định về lối hành xử khác nhau và không thể đồng ư với nhau ngay cả việc nên ăn thứ ǵ, lại đúng cả hai? Làm thế nào mà Thượng Đế- hay các vị thần- lại có thể phản ảnh một cách khác nhau đến thế ở hai nhóm người khác nhau? Rơ ràng những người YYY đă sai lầm, và chúng ta phải làm một cái ǵ đó giúp họ thấy được sai lầm đó.

“NHỮNG NGƯỜI KIA SAI LẦM, TÔI SẼ TIÊU DIỆT HỌ”

Trong những người tin rằng chỉ có một niềm tin duy nhất đúng đắn (là niềm tin mà họ tuân theo) c̣n tất cả những thứ khác là sai lầm và có tính chất sùng bái, một số tuyên bố rằng loại trừ tôn giáo của những người YYY là giải pháp duy nhất, ngay cả khi phải dùng đến bạo lực. Cần thiết phải ngăn chặn tất cả những ǵ liên quan đến niềm tin đối nghịch kia: phá huỷ thánh tích, xóa bỏ những biểu tượng thần thánh không đúng và ngăn chặn những tín đồ của tôn giáo kia thực hành niềm tin của họ. Và nếu những kẻ vô đạo chống lại những biện pháp như vậy, từ chối từ bỏ tôn giáo cũ và chuyển sang tin theo tôn giáo duy nhất đúng đắn th́ cần thiết buộc họ phải làm vậy, hoặc ngay cả giết họ: đó là ư muốn của Thượng Đế (hay các vị thần).

- Nhưng chúng ta có chắc đây thật sự là ư muốn thần thánh? Một người XXX đáp lại. Thượng Đế (hay các vị thần) của chúng ta dạy rằng giết người là xấu xa, và rằng chúng ta không nên đối xử với người khác theo cái cách mà chúng ta không muốn bị đối xử như vậy. Liệu nguyên tắc này có thể bị bỏ qua nhân danh niềm tin tôn giáo?

- Ngoài ra, hăy tưởng tượng là những người YYY cũng rất xác tín về sự đúng đắn của tôn giáo họ, thế th́, họ có thể đáp trả bạo lực bằng bạo lực. Chúng ta có sức mạnh, và có lẽ trong một khoảng thời gian nào đó chúng ta có thể có lợi thế. Nhưng dần dần, những người YYY, hay con cái họ, có thể phục thù v́ những sai lầm mà chúng ta đă làm với họ. Phải chăng đây thực sự là điều chúng ta muốn?

“NHỮNG NGƯỜI KIA SAI LẦM, TÔI SẼ THUYẾT PHỤC HỌ”

- Thay v́ tiêu diệt tất cả những người không tin theo niềm tin đúng đắn, chúng ta cần phải giải thích cho họ tại sao họ sai lầm, và thuyết phục họ rằng tôn giáo của chúng ta ưu việt hơn. Hăy làm cho họ thấy rằng, cách duy nhất để được cứu rỗi và như thế có được niềm vui sống trong một thế giới tốt đẹp hơn là họ phải từ bỏ tôn giáo sai lầm của họ và theo tôn giáo đúng đắn của chúng ta. Thượng Đế (hay các vị thần), người ủng hộ chúng ta, sẽ hướng dẫn chúng ta và chỉ cho ta biết làm cách nào để chiếm được cảm t́nh của họ.

Nhiều người XXX cho rằng đây là giải pháp khả dĩ tốt nhất bởi v́ có thể đạt được mục đích mà không sử dụng đến bạo lực.

Nhưng một vài người khác phản đối:

- Nếu Thượng Đế (hay các vị thần) muốn người YYY tin theo tôn giáo của người XXX th́ tại sao Ngài không làm cho điều này xảy ra? Ngài hẳn phải có lư do của ḿnh, và chúng ta là ai mà đ̣i hành động thay mặt Ngài (các ngài)? Có lẽ có một lư do nào đó giải thích tại sao Chân Lư chỉ đến với chúng ta mà thôi.

- Bỏ qua tất cả những điều khác, làm sao chúng ta chắc rằng người YYY sẽ vui vẻ cải đạo? Lỡ người ta nói như thế này th́ sao: “Ai bảo các anh rằng tôn giáo của các anh tốt hơn tôn giáo của chúng tôi? Chúng tôi không nghĩ như vậy”.

“NHỮNG NGƯỜI KIA SAI LẦM, TÔI SẼ MẶC KỆ HỌ”

- Rơ ràng là Thượng Đế (hay các vị thần) muốn rằng chỉ chúng ta được nhận chân lư từ Ngài. Có lẽ trong tất cả những giống loài ngài tạo nên, Ngài dành cho chúng ta t́nh yêu đặc biệt, và v́ thế chúng ta không phải lo lắng về điều mà người khác tin tưởng. Tôi đề nghị là chúng ta cứ tiếp tục theo đuổi truyền thống của chúng ta, và mặc kệ người YYY với tôn giáo của họ.

Một vài người thấy rằng khi đă sống bên cạnh những người YYY th́ thật khó mà không tiếp xúc với họ. Hoặc là họ quyết định chia đôi lănh thổ, và như thế cho phép mỗi nhóm tuân theo phong tục của chính ḿnh và thể hiện niềm tin của ḿnh một cách riêng rẽ, hoặc phải t́m ra một cách nào đó để điều ḥa mối quan hệ giữa hai nhóm mà không dính dáng ǵ đến khía cạnh tôn giáo.

“CHÚNG TA ĐỀU CÓ CHUNG MỘT THƯỢNG ĐẾ”

Trong cuộc họp, có một người trước đó vẫn im lặng lắng nghe những người khác thảo luận bây giờ mới lên tiếng:

- Có một cái ư chung trong các đề nghị của qúy vị, và đây chính là điều tôi muốn nói. Theo qúy vị, người YYY sai v́ họ không tin vào cùng những điều mà chúng ta tin tưởng. Đây là lư do tại sao qúy vị tập trung vào những sự khác biệt làm chia cách tôn giáo của chúng ta với tôn giáo của người YYY, mà không đế ư đến tất cả những ǵ mà hai tôn giáo cùng chia sẻ.

- Qúy vị không thấy rằng, có lẽ Thượng Đế (hay các vị thần) muốn phản ánh chính Ngài lên những nhóm người khác nhau theo những h́nh thức hơi khác nhau tuỳ theo phong tục tập quán của mỗi nhóm? Người mẹ đối xử với những đứa con một cách khác nhau, dù rằng bà ta yêu chúng như nhau, bởi v́ bà ta thấy rằng mỗi đứa có một tính cách và thiên hướng riêng. V́ thế, dù cho những sự biểu hiện về mặt tôn giáo rất khác nhau, chúng có thể được xem là cùng thuộc về một nguyên lư siêu việt đơn nhất, kết quả là không có sự khác nhau căn bản nào giữa Thượng Đế (hay các vị thần) của người XXX và Thượng Đế (hay các vị thần) của người YYY. Tất cả các tôn giáo đều là những con đường dẫn đến cùng một mục đích chung: Hiện Thể bất diệt chỉ có một, nhưng con người gọi tên Người theo những cách khác nhau.

Nhiều người XXX bị ấn tượng bởi những lời này. Nhưng vẫn không rơ là những kết luận ǵ có thể đựơc rút ra từ bài diễn văn này. Nếu có cùng một Thượng Đế th́ chúng ta nên cư xử với người YYY như thế nào?

Vài người thấy rằng, nếu quả đúng như vậy th́ mọi người phải có thể tự do nhận được sự cứu rỗi theo cái cách mà truyền thống của họ đề nghị. Điều đó có nghĩa là tôn giáo của người XXX chẳng phải đúng đắn ǵ hơn tôn giáo của người YYY, điều mà chỉ một số ít người XXX sẵn sàng chấp nhận.

Một số khác chỉ ra rằng, với cùng một lư do (bởi v́ mọi tôn giáo đều nói về cùng một Thượng Đế), nếu một người XXX nào đó cảm thấy thích phong tục của người YYY hơn phong tục truyền thống của ḿnh th́ người đó được tự do chuyển đổi sang một tôn giáo khác với sự chấp thuận hoàn toàn của tôn giáo gốc của ḿnh. Hoặc anh ta có thể chọn cách tự tạo nên một sự tổng hợp cho chính ḿnh từ hai tôn giáo, chọn từ những yếu tố nào thích hợp với anh ta nhất.

Đến đây th́ một số người XXX lên tiếng: Dễ ẹt, ai thuộc về tôn giáo nào th́ có bổn phận tuân theo tôn giáo đó. Anh không thể vừa là người XXX, vừa là người YYY.

- Tại sao không? Người phát biểu đầu tiên đáp lại. Tôi là con của mẹ tôi và cha tôi, và tôi kính trọng cả hai, mỗi người theo một cách khác nhau.

- Nhưng điều ǵ xảy ra nếu cha mẹ anh không thống nhất với nhau ở một vài khía cạnh về cách nuôi dưỡng anh? Nếu họ không thỏa thuận được với nhau th́ ư muốn của một trong hai người tuỳ thuộc vào ư muốn của người kia. Ai dám chắc là không sớm th́ muộn anh sẽ không nhận thấy là phải vi phạm những nguyên tắc của chúng ta để có thể tôn trọng những nguyên tắc của người YYY?

- Tôi hiểu ư anh nói, dù vậy tôi nghĩ rằng, nếu như ở trong t́nh huống này, tôi sẽ cố gắng nghe theo lương tâm ḿnh.

- Theo tôi th́ c̣n có một khả năng khác. - một thành viên khác của hội đồng bảo. Chúng ta nên t́m một cơ sở chung cho cả hai tôn giáo để ḥa giải và thống nhất mọi người dưới một niềm tin duy nhất. Nếu tất cả chúng ta có một Thượng Đế, thế th́ không có lư do ǵ khiến ta không thể có một tôn giáo phổ quát. Và tất cả mọi người có quyền tiếp cận tôn giáo này như nhau.

- Một tôn giáo tự nhiên như thế này, tôn giáo của sự khoan dung và cân bằng xă hội, có thể quy giảm về những ư tưởng rất căn bản: Thượng Đế (hay các vị thần) tồn tại, Ngài đă tạo ra thế giới và ban thưởng cho những ai sống đức hạnh.

- Nhưng ai là người cho biết phải sống như thế nào th́ được gọi là sống đức hạnh? Giáo luật của người XXX hay của người YYY? Điều nguy hiểm là, khi chú tâm vào sự giống nhau giữa hai tôn giáo, chúng ta đánh mất nét khác biệt mà chỉ có thiện ư thôi th́ không thể xóa bỏ được. Nhiều người XXX cảm thấy rằng cái tôn giáo tự nhiên đó đă tồn tại, đó chính là cái tôn giáo mà họ đang theo. Tôi nghĩ là điều này cũng đúng đối với người YYY: khi ngồi lại và so sánh những niềm tin của ḿnh, chúng ta khó mà đồng ư với nhau về mọi thứ, và mỗi bên sẽ cố gắng ép người kia chấp nhận những chân lư của chính họ, xem nó như là những chân lư tự nhiên.

Năy giờ chúng ta nói với nhau như thể chỉ có một Chân Lư duy nhất tồn tại, mặc dù thừa nhận là có thể có vài tôn giáo khác nhau, mỗi tôn giáo có chân lư riêng của ḿnh, và cảm nhận nó theo những cách khác nhau. Nhưng điều ǵ xảy ra nếu có nhiều Chân Lư cùng tồn tại?

“AI CÓ THƯỢNG ĐẾ CỦA M̀NH VÀ ĐIỀU NÀY PHẢI ĐƯỢC TÔN TRỌNG”

- Người XXX có Thượng Đế (hay các vị thần) của ḿnh, và họ vinh danh Ngài theo cái cách mà họ nghĩ là đúng đắn. Nhưng người YYY cũng tôn thờ Thượng Đế (hay các vị thần) của họ theo những quy tắc của ḿnh, và như chúng ta biết là họ rất tin tưởng. Điều đó không có nghĩa là Thượng Đế (hay các vị thần) của chúng ta giống với Thượng Đế (hay các vị thần) của họ. Và ngay cả nếu người XXX và người YYY có cùng Thượng Đế (hay các vị thần) th́ chúng ta cũng không thể nào biết được là nhóm nào vinh danh Ngài tốt hơn. V́ thế tại sao không thừa nhận rằng mỗi người có Thượng Đế (hay các vị thần) của ḿnh và như thế phải được tôn trọng, dù chúng ta không có cùng niềm tin với họ?

2.3.2 VÍ DỤ

(..)

2.3.3 BÀI TẬP

(..)

2.3.4 TRÍCH DẪN

(..)

2.3.4.2. Umberto Eco: “Trào lưu chính thống, chủ nghĩa toàn thể, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự thiếu khoan dung”

Trong các thuật ngữ có tính lịch sử, “trào lưu chính thống” là nguyên tắc chú giải văn bản cổ, liên quan đến việc chú giải Kinh Thánh. Trào lưu chính thống phương Tây hiện đại đă được khai sinh trong các nhóm Tin Lành ở Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 và điểm đặc trưng của nó là quyết định giải thích Kinh Thánh về mặt văn tự, đặc biệt là về những khái niệm vũ trụ học mà tính đúng đắn của nó đă bị khoa học ngày ấy nghi ngờ. Do đó đây là sự bác bỏ một cách không khoan dung và thường xuyên tất cả những giải thích có tính phúng dụ[19] và đặc biệt là tất cả những h́nh thức giáo dục cố gắng làm xói ṃn niềm tin vào Kinh Thánh, như đă xảy ra với vinh quang thuộc về thuyết Darwin[20].

H́nh thức chú giải theo nghĩa đen có tính chính thống này đă có từ xưa rồi, và ngay từ những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Ki Tô giáo đă có những cuộc tranh luận giữa những người tin vào từng câu từng chữ và những người ủng hộ một cách chú giải linh hoạt hơn, chẳng hạn như thánh Augustine. Nhưng trong thế giới hiện đại, trào lưu chính thống nghiêm ngặt chỉ có thể là đạo Tin Lành, như thế để là một người theo trào lưu chính thống bạn phải thừa nhận rằng chân lư được rút ra từ việc giải thích Kinh Thánh. Thay v́ quyền năng nhà thờ là cái đảm bảo cho sự chú giải như trong giới Công Giáo, trào lưu chính thống Tin Lành mang một cái ǵ đó của chủ nghĩa truyền thống. Tôi sẽ không xem xét bản chất của trào lưu chính thống Hồi giáo và Do Thái giáo, mà để dành nó cho các chuyên gia về lĩnh vực này.

Trào lưu chính thống có nhất thiết là bảo thủ? Có, bảo thủ ở khía cạnh chú giải kinh điển, nhưng không nhất thiết bảo thủ khía cạnh chính trị. Có thể tưởng tượng là sẽ có một giáo phái theo trào lưu chính thống cho rằng ḿnh là người được đặc ân sở hữu lối giải thích đúng đắn Kinh Thánh, tuy vậy lại không theo đuổi việc kết nạp người vào Đạo dưới bất cứ h́nh thức nào, và kết qủa là họ không muốn buộc người khác phải tin theo, hay đấu tranh cho một xă hội dựa trên những niềm tin đó.

Trái lại “chủ nghĩa toàn thể” đề cập đến một vị thế tôn giáo và chính trị theo đó các nguyên tắc tôn giáo phải trở thành h́nh mẫu cho đời sống chính trị và nguồn gốc của luật pháp quốc gia. Trong khi trào lưu chính thống và chủ nghĩa toàn thể về nguyên tắc mang tính bảo thủ, có một số h́nh thức của chủ nghĩa toàn thể được xem là tiến bộ và cách mạng. Có những phong trào theo chủ nghĩa toàn thể Công Giáo không theo theo trào lưu chính thống đấu tranh cho một xă hội hoàn toàn lấy cảm hứng từ những nguyên tắc tôn giáo mà không dùng đến việc giải thích Kinh Thánh về mặt văn tự, và có lẽ sẽ sẵn sàng chấp nhận một thứ thần học[21] kiểu như của Teilhard de Chardin[22].

Những biểu hiện của nó c̣n tinh tế hơn. Thử nghĩ về hiện tượng “phải đạo” về mặt chính trị[23] ở Hoa Kỳ. Hiện tượng này ra đời từ ước muốn khuyến khích sự khoan dung và sự thừa nhận tất cả những sự khác biệt về mặt tôn giáo, chủng tộc, và giới tính, và như thế nó đang trở nên một h́nh thức mới của trào lưu chính thống ảnh hưởng lên ngôn ngữ hàng ngày theo cái lối hầu như mang tính lễ nghi, và nó thổi linh hồn vào từng con chữ- và như thế, bạn có thể phân biệt đối xử những người mù miễn là bạn nhă nhặn gọi họ là “người khiếm thị”, và trên hết bạn có thể phân biệt đối xử những người không tuân theo những quy tắc của sự “phải đạo” về mặt chính trị.

Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc th́ sao? Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo kiểu của phát-xít Đức th́ quả là toàn trị[24], nó tự phụ là có tính khoa học, nhưng lúc đó chẳng có ǵ gọi là chính thống trong cái học thuyết về chủng tộc đó cả. Một thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc phi khoa học kiểu như của Liên Đoàn Phương Bắc[25] của Ư không có cùng cội rễ văn hóa của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc giả khoa học[26] (trong thực tế nó chẳng có cội rễ văn hóa nào), và v́ thế nó chỉ là một thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

C̣n sự thiếu khoan dung? Liệu có thể quy giảm nó về những sự khác biệt này và mối quan hệ giữa trào lưu chính thống, chủ nghĩa toàn thể và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc? Đă có những h́nh thức không phân biệt chủng tộc của sự thiếu khoan dung (chẳng hạn như việc bức hại những người dị giáo hay việc không dung thứ những người bất đồng ư kiến trong những chính thể độc tài). Sự thiếu khoan dung là một cái ǵ đó có nguồn gốc sâu xa hơn, là nền tảng gốc rễ của những hiện tượng tôi đă xem xét ở đây.

Trào lưu chính thống, chủ nghĩa toàn thể và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc giả khoa học là những vị thế lư thuyết giả định trước một học thuyết. [Tuy nhiên,] sự thiếu khoan dung lại xuất hiện sớm hơn bất cứ học thuyết nào.

Umberto Eco: "Fundamentalism, Integralism, Racism and Intolerance" (bản tiếng Anh của Alastair McEwen)

 

Bài viết (tham khảo) liên quan đến tôn giáo

(Chúng tôi không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài)

1. Tôn giáo và tâm lư xă hội (Tâm Thiện)

2. Chính trị và tôn giáo (Nhất Hạnh)

3. Công giáo và chính trị (tài liệu của Vatican) [click vào thư mục "Tài Liệu" ở cột bên trái]

4. Thánh chiến, Lí trí và cuồng nhiệt (Umberto Eco)

5. Tôn giáo của người Chăm ở B́nh Thuận (Phan Quốc Anh)

6. Những đôi mắt của minh triết (Eyes of Wisdom, Ralf Tooten; tập ảnh chân dung một số tu sĩ của nhiều tôn giáo khác trên thế giới) 

 

Tôn Giáo & Tín Ngưỡng ở Việt Nam 

Ngoài sự thờ phượng ông bà và tổ tiên, tín ngưỡng trong dân gian Việt Nam c̣n có một số tôn giáo lớn như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài và Hoà Hảo...

Phật giáo: Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II, đến đời Lư (thế kỷ thứ VI) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng răi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xă hội, và để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.

Cuối thế kỷ thứ XIV, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo c̣n ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xă hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.

Công giáo: được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVII, nơi tập trung nhiều tín đồ Công giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu - Phát Diệm (tỉnh Ninh B́nh) và vùng Hố Nai - Biên Hoà (tỉnh Đồng Nai). Số lượng tín đồ theo Công giáo chiếm khoảng 10% dân số.

Tin Lành được du nhập vào Việt Nam cùng thời với Công giáo nhưng ít được phổ biến. Hiện nay các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Đô. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng 400 ngh́n người.

Hồi giáo: tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chàm (Chăm) ở miền trung Trung bộ, có khoảng 50 ngh́n người.

Cao Đài: xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Đài ở miền Nam. Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người.

Hoà Hảo: xuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.

Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu: Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam đă tng tồn tại nhiều h́nh thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân... Đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ).

Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc. Vào đến miền Nam, "đạo" này đă hoà nhập "Mẫu"với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh).

Trong thực tế việc thờ cúng của "đạo" Mẫu có sự hội nhập các h́nh thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đă và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi.

(Nguồn: http://www.vietnamtourism.com/ )

 

Về tên gọi các tôn giáo thờ Thiên Chúa trong tiếng Việt

"[…] nhiều người, vẫn là trên sách vở, cứ tiếp tục dùng chữ Đạo Cơ-đốc, Đạo Gia-tô để chỉ Đạo (Chúa) Ki-tô mặc dù những tên gọi đó không c̣n quen thuộc với nhân dân nữa. Từ Cơ-đốc là cách đọc chữ Kitô theo Hán văn cũng như chữ Gia-tô là cách đọc chữ Giêsu theo tiếng Hán. Ngày nay ta có tiếng Kitô giáo hay đạo Kitô rơ ràng và quen thuộc hơn. Ngoài ra, hiện nay người ta cũng quen gọi Kitô giáo và ngay cả Công giáo là Thiên Chúa giáo. Gọi như thế không sai nhưng thiếu chính xác, v́ Đạo Thiên Chúa gồm ba nhánh khác nhau : Đạo Do-thái, Đạo Kitô và Đạo Hồi. Kitô giáo là tên gọi chung tất cả những người tin theo Đức Kitô (hay Đức Giêsu), bao gồm Công giáo, Chính thống giáo, Tin lànhAnh giáo. Phân tích sự việc th́ hiển nhiên như thế, nhưng không phải ai cũng chấp nhận trong thực tế; một số người vẫn dùng tên gọi Chính thống giáo hay Tin lành cách b́nh thường, nhưng dường như lại tránh né dùng chữ Công giáo chắc v́ họ hiểu từ "công giáo" một cách tiêu cực như thế nào đó, mặc dù theo nguyên ngữ, từ "công giáo" chỉ có nghĩa là đạo chung, không thuộc riêng về một quốc gia, dân tộc nào cả.[…]" (LM Nguyễn Hồng Giáo, Nguồn: http://www.nguoitinhuu.com/tamlinh/HongGia...dictionary.html)

 

Một số trang web tôn giáo bằng tiếng Việt

(Chúng tôi không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài)

1. Hồi Giáo (đạo Hồi, đạo Islam; Islamism)

- Islam và Đời Sống: http://www.haidang.org/

2. Ki Tô Giáo (đạo Cơ Đốc, đạo Gia-Tô; Christianity)

- Việt Catholic: http://vietcatholic.com/news/index.htm (Công Giáo, Catholicism)

- Việt Christian: http://www.vietchristian.net/ (Tin Lành, Protestantism)

- Kinh Thánh, Giáo Lư, Thần Học... : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/thanhoc/mucluc.htm

3. Phật Giáo (đạo Phật, đạo Bụt; Buddhism)

- Thư Viện Hoa Sen: http://www.thuvienhoasen.org/ (và các link đến các trang khác)

- Tu Viện Quảng Đức: http://www.quangduc.com/Mucluctongquat.html

4. Phật Giáo Ḥa Hảo (đạo Ḥa Hảo; Hoa Hao Buddhism)

- Lịch Sử, Giáo Lư....: http://www.hoahao.org/

5. Cao Đài Đại Đạo (đạo Cao Đài; Caodaism)

- Lịch Sử, Phương Pháp Tu Hành... : http://www.caodai.org/vietnam/vietnamese.htm

6. Thông Thiên Học (Théosophie)

- Hội Thông Thiên Học: http://www.thongthienhoc.com/index.html


 

3. ĐÂY LÀ CHỖ CỦA TÔI[27]

Mặc dù trẻ có thể sớm trải qua những điều mà chúng tôi sắp bàn đến trong chương này, nhưng đây cũng là một đề tài khó v́ có những lí do chính đáng cho hai thái độ khác nhau mà chúng tôi sắp tŕnh bày. Chúng tôi gọi đó là thái độ “định cư” và “du cư”, hay nói cách khác, đó là "yêu nhà của ḿnh" và "sống ở nhà kẻ khác" (hay "chào đón những ai đến nhà ḿnh"). Ư là để khuyến khích giới trẻ hiểu rơ những khía cạnh tích cực của tất cả các quan điểm và dẫn dắt chúng thảo luận những hạn chế của từng quan điểm. Do đó, với một đề tài có vẻ giản đơn như thế chúng ta phải truyền đạt ư này sao cho đối với một số vấn đề sẽ không có một câu trả lời duy nhất mà là nhiều câu trả lời, tuỳ thuộc vào quan điểm, vào t́nh huống cụ thể, vân vân.

Cuối phần này chúng tôi đưa ra một số ư tưởng thảo luận nhằm ḥa giải những mâu thuẫn bề ngoài và chỉ ra cho thấy làm thế nào mà cái nhu cầu về sự bảo vệ và sự riêng tư (mà các cộng đồng định cư nhấn mạnh) và nỗ lực khám phá (nhất là đối với những người sống du cư) thực ra chỉ là hai khía cạnh của tính cách con người, chúng bao hàm lẫn nhau, và do đó mỗi chúng ta đều có một ít “chất” định cư, một ít “chất” du cư (ở một mức độ nào đó tùy theo văn hóa và tính cách của từng người)

Sau khi thiết lập những t́ên đề này chúng tôi sang phần thứ hai nói về vấn đề biên giới, ở đó trẻ em sẽ được tham gia xem xét những biên giới lănh thổ của khu vực chúng ở.

1. Lănh thổ

Mọi người ai cũng cần một nơi an toàn để ẩn nấp lúc thời tiết xấu hay để tránh những hiểm nguy từ thế giới bên ngoài: Chúng ta là những động vật có lănh thổ.

Mọi người ai cũng cảm thấy bị cuốn hút về phía những vùng đất chưa biết: Chúng ta là những động vật du cư.

2. Biên giới

Nhiều người sống ở miền quê nơi có đất đai được ngăn chia thành ruộng vườn được giới hạn bởi những biên giới như rào dậu, kẽm gai, hay chỉ là vài viên đá xếp lại trên nền để đánh dấu phạm vi phần ruộng vườn nhà ḿnh.

3.1 LĂNH TH

3.1.1

Chúng ta là những động vật có lănh thổ

Mọi người ai cũng cần một nơi an toàn để ẩn nấp lúc thời tiết xấu hay để tránh những hiểm nguy từ thế giới bên ngoài. Nơi đó chúng ta có thể nghỉ ngơi mà chẳng hề phải lo sợ bị ai tấn công, chúng ta có thể sẻ chia những kinh nghiệm hàng ngày với những thành viên khác trong gia đ́nh, nơi ta cảm thấy ḿnh thuộc về một nhóm có chung tiếng nói, có cùng lịch sử và cùng một loạt những dự kiến cho tương lai.

Bản năng sinh tồn thôi thúc con người t́m nơi trú ẩn ngay cả trong ngôi nhà ḿnh, và bảo vệ nơi quen thuộc này khỏi những người lạ muốn xâm nhập.

Chúng ta là những động vật du cư

Mọi người ai cũng đều cảm thấy bị cuốn hút về phía ngoài lănh thổ ḿnh đă biết. Tiếng gọi của một nơi xa xôi, chưa biết và đầy quyến rũ, thúc dục chúng ta rời nguyên quán của ḿnh hướng đến những nơi có thể khá gần hay rất xa.

Bản năng khám phá cũng quan trọng như bản năng sinh tồn, v́ nó làm cho con người quyết định rời nơi an toàn của ḿnh để đi khám phá bản chất của môi trường bên ngoài, cùng với những tài nguyên nó mang lại và những điều để học hỏi.

3.1.2 KHAI TRIỂN

Không gian riêng

Việc gắn bó với không gian của ḿnh, với nguyên quán, với môi trường sống của ḿnh, nghĩa là lănh thổ của ḿnh, được gọi là tính có lănh thổ (lănh thổ tính). Đó là một hiện tượng tự nhiên, động vật nào cũng có, liên quan trước hết và trên hết đến việc bảo vệ không gian riêng của ḿnh khỏi sự xâm phạm của người lạ. Nếu chúng ta từ từ tiến lại gần một con mèo hoang, đến một khoảng cách nào đó th́ chúng ta sẽ thấy rằng con mèo bỗng nhiên bỏ chạy. Điều đó giống như là chúng ta đă bước qua biên giới vô h́nh vào nơi mà con mèo coi là không gian riêng của nó, và sự trốn chạy đó nhằm tái thiết lập một "khoảng cách an toàn". Nếu lúc đó chúng ta ngăn cản không cho con mèo bỏ chạy, và nếu chúng ta tiếp tục tiến lại gần nó hơn th́ lúc đó có thể, v́ sợ hăi, nó sẽ biểu hiện những dấu hiệu nổi giận như xù lông, cong lưng lên, gậm gừ, vân vân, ḥng đuổi chúng ta đi.

Những nhà phong tục học chỉ ra rằng nhiều loài chim và những động vật có vú cũng phản ứng giống như vậy, có kẻ thù là các sinh vật cùng loài hay khác loài. Thực ra không gian riêng không chỉ là một rào chắn chống kẻ lạ xâm nhập mà đối với nhiều loài vật đó c̣n là một nơi khiến những thành viên khác trong cùng chủng loại thôi không tiến đến gần quá mức, do đó giúp tránh những ảnh hưởng của t́nh trạng sinh sống quá đông đúc (nếu dân cư quá đông th́ sẽ không có đủ thức ăn để sống, các cá thể sẽ quấy rầy nhau, bệnh tật lan rộng, vân vân). Kết quả là những động vật này có xu hướng bỏ đi hoặc tỏ thái độ thù hằn ngay cả khi không gian riêng của chúng bị xâm chiếm bởi đồng loại.

Con người cũng là những động vật có lănh thổ. Nếu người lạ tiến đến rất gần chúng ta, phả hơi thở vào mặt chúng ta hoặc giẫm lên chân chúng ta th́ chúng ta cảm thấy thật phiền hà v́ "sự gần gũi" đó, và lúc đó chúng ta hầu như cũng sẽ có những biểu hiện giống như những loài vật như là nhe răng, bỏ chạy. Thông thường chúng ta giới hạn ḿnh bằng cách bước lui và giữ khoảng cách. Nếu không gian c̣n lại quá nhỏ, giống như khi chúng ta thấy ḿnh đang ở trong thang máy với người lạ th́ chúng ta thường cố gắng xử sự giống như thể không có người lạ kia ở đó, chẳng hạn quay đi hướng khác, hoặc nh́n vào khoảng không. Như vậy chúng ta cũng bảo vệ không gian riêng của ḿnh, mặc dù chúng ta thể hiện khác với loài vật.

Tiếp xúc với kẻ khác

Trong thế giới động vật một vài sinh vật sống riêng lẻ, như một số loài chim, hổ, thằn lằn hay rắn độc. Những loài khác th́ sống theo bầy đàn như sư tử, ngựa vằn, chó sói, cá trích, và rất nhiều loài chim khác. Chúng sống như vậy v́ cuộc sống bầy đàn giúp các cá thể tương trợ nhau và kiếm thức ăn cùng nhau, đồng thời cũng làm cho chúng có thể bảo vệ ḿnh khỏi kẻ thù mạnh hơn. Khi chúng gặp đồng loại chúng thường cố gắng t́m hiểu nhau, và nếu được th́ kết bạn với nhau. Để làm điều này chúng thường trao đổi tín hiệu cho nhau, và v́ chúng không biết nói nên chúng vẫy đuôi, hoặc ngửi nhau để biết mùi kẻ đối diện có đáng tin cậy không, hoặc chúng phát ra âm thanh và đôi khi c̣n liếm nhau. Nếu qua mùi và những dấu hiệu khác mà chúng có thể có được sự tin cậy từ kẻ khác th́ lúc đó chúng sẽ đồng ư sống cùng nhau, cư xử với nhau như thể chúng có thể tṛ chuyện cùng nhau, và đôi khi chơi giỡn với nhau.

Điều này giống như khi hai đứa trẻ gặp nhau. Chúng tiến lại gần nhau, tự hỏi "Bạn là ai?" hay hỏi "Bạn có muốn chơi với tôi không?", hoặc một đứa sẽ đưa kẹo hay đồ chơi cho đứa kia. Thực vậy, con người cũng cần cảm giác về sự có mặt của đồng loại và kiếm t́m những cơ hội tiếp xúc với người khác. Hàng ngày chúng ta đều có những tiếp xúc như vậy, và khi chúng ta ở một ḿnh quá lâu chúng ta sẽ đâm chán và sẽ đi kiếm ai đó. Đôi khi chúng ta đi ra đường hoặc tới quán rượu chỉ để hàn huyên. Đôi khi chúng ta gọi điện cho ai đó ngay cả khi chúng ta chẳng có ǵ để nói mà chỉ cốt để nghe giọng nói của người kia (hoặc để bắt người kia nghe ḿnh).

Tiếp xúc với kẻ khác có thể xảy ra qua nhiều cách khác nhau: đôi khi qua ánh mắt, hoặc câu chào, và rồi chúng ta bắt đầu chuyện tṛ hoặc chơi giỡn cùng nhau. Thậm chí đánh nhau cũng là một h́nh thức tiếp xúc. Khi chúng ta thực hiện một tiếp xúc có nghĩa là chúng ta chấp nhận cho kẻ khác bước vào không gian riêng của chúng ta, và người kia cũng như vậy.

Trẻ em xây dựng không gian riêng của ḿnh như thế nào?

Trẻ sơ sinh chưa biết cảm nhận không gian riêng của chúng và chưa thấy được biên giới giữa chúng với người khác. Trong những tháng đầu đời, môi trường bên ngoài hiện ra trước mắt trẻ như là một điều ǵ đó thật rối rắm: trẻ vẫn chưa biết cơ thể ḿnh và chưa thể phân biệt nó với cơ thể người khác, nó cũng chưa nhận ra được sự vật và con người xung quanh là những thứ khác với ḿnh. Đối với trẻ sơ sinh th́ tham dự vào thế giới nghĩa là những khi ở bên mẹ, khi mẹ cho bú và vuốt ve âu yếm chúng, và không gian riêng của mẹ cũng chính là của chúng. Nhưng giữa tháng thứ hai và tháng thứ sáu trẻ bắt đầu chú ư đến một sự thật là mẹ và ḿnh khác nhau. Và từ đó bắt đầu trở nên ư thức về ranh giới lạ lẫm giữa chúng và người khác. Chính v́ điều này mà trẻ sẽ khóc nếu mẹ (hoặc người chăm sóc trẻ) đi khỏi, khi đó trẻ nh́n theo mẹ, gọi mẹ, và khi không c̣n thấy mẹ nữa trẻ sẽ biết buồn. Nhưng cũng nhờ có kinh nghiệm “chia ly” này vào giai đoạn từ tháng thứ sáu đến tháng thứ mười tám trẻ bắt đầu nhận ra được rằng ḿnh là một cá thể riêng biệt với những người khác.

Và do đó trẻ bắt đầu dần nhận ra không gian riêng của chúng. Trái với khi chúng c̣n nhỏ th́ ai cũng có thể đến gần chúng được, càng về sau th́ chỉ có một vài người gần gũi với trẻ mới bước qua "giới hạn vô h́nh của sự gần gũi" mà không làm trẻ lo sợ hay bất an. Khoảng lên ba, trẻ bắt đầu biết giữ khoảng cách giữa ḿnh với những người lớn không phải là thành viên thân thiết trong gia đ́nh hay bạn bè (trong khi đó đối với bạn bè cùng trang lứa th́ lại không tồn tại khoảng cách như vậy). Cũng trong thời ḱ này, trẻ bắt đầu phân biệt được khoảng cách phải giữ giữa bé trai và bé gái, và chỉ qua cách này trẻ mới ư thức được giới tính của ḿnh (đó là, ḿnh là con trai hay con gái). Khi nhận ra không gian riêng của ḿnh, trẻ đồng thời cũng có ư niệm về tài sản riêng. Trong không gian riêng của ḿnh, trẻ nhận ra một số đồ vật là của chúng, và chúng biết bảo vệ những đồ vật đó (chúng nói "nó là của tôi" với tất cả những thứ mà chúng thích). Ư niệm về tài sản này là điều tự nhiên, và chỉ qua dạy dỗ chúng ta mới biết được rằng chúng ta không thể có tất cả những ǵ chúng ta muốn dù cho những thứ đó thuộc về một ai đó, có nhiều thứ chúng ta phải san sẻ. Đối với trẻ, học cách tôn trọng tài sản của người khác có nghĩa là trở thành những động vật xă hội, người biết chấp nhận quy luật để có thể sống trong một cộng đồng, dù là trong gia đ́nh, khu phố, trường học, hay thôn xóm.

Trẻ hiểu rằng trong một số t́nh huống th́ nên giữ khoảng cách với người này nhiều hơn với người kia (ba mẹ dạy rằng không được tin người lạ, v́ họ có thể là người xấu), nhưng cũng giống như chúng muốn bảo vệ không gian riêng và tài sản của ḿnh không cho người khác xâm phạm, chúng cũng phải biết tôn trọng không gian và tài sản của người khác.

Trẻ em bắt đầu khám phá như thế nào?

Trẻ sơ sinh trải qua hầu hết thời gian trong một trạng thái giữa ngủ và thức; thức khi đói và khi có những nhu cầu khác, và trở về với giấc ngủ ngay khi nhu cầu được thỏa măn. Nhưng khoảng tháng thứ sáu chúng bắt đầu khám phá thế giới xung quanh. Những khám phá đầu tiên là từ cơ thể người mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ; trẻ lôi tóc, mũi, tai, bỏ tay vạ miệng mẹ, quan sát và quờ quạng tay chân khi kề bên. Một khi đă thấy quen thuộc với khuôn mặt mẹ, và nhận ra rằng đó là một thực thể khác biệt với chúng, trẻ, ở tháng thứ tám, có thể, vừa hiếu ḱ và sợ sệt, quay sang khám phá khuôn mặt người khác, với những đường nét có thể đối chiếu với đường nét trên khuôn mặt mẹ.

Khi trẻ dần nắm bắt được khái niệm chuyển động và tự ư thức, chúng ngày càng muốn khám phá thế giới. Ban đầu, chúng chỉ có thể nắm, ngậm, sờ mó bất cứ thứ ǵ xuất hiện trong tầm với. Về sau, bằng thị giác và thính giác, trẻ quan sát những vật ở xa hơn. Đến khi biết ḅ, trẻ bắt đầu rời xa mẹ trong khoảng thời gian ngắn; đôi khi quá say sưa chơi đùa đến nỗi dường như quên mất sự có mặt của mẹ, nhưng rồi khi nỗi lo sợ xa cách mẹ bất ưng chiếm lấy trẻ chúng lại trở về với mẹ. Lúc này như thế những chuyến đi về nho nhỏ giữa mẹ và thế giới xung quanh.

Do đó, theo một nghĩa nào đó, trẻ đă tạo ra một "bản đồ" thế giới của chúng, học cách nhận biết và thấy trước ngày càng nhiều t́nh huống, đồng thời học cách hiểu rơ hơn những ǵ đă biết và có thể thực hiện. Chẳng hạn, trẻ học được rằng nếu chúng nắm lấy một đồ vật dễ vỡ rồi thả ra đồ vật đó sẽ rơi xuống đất và vỡ; nhưng qua hành động đó chúng cũng có thể nhận ra những điều có thể làm bằng đôi tay của ḿnh. Vào cuối năm đầu đời, trẻ học đi, và lúc đó một chân trời mới mở ra trước mắt chúng. Khi đứng được bằng hai chân của ḿnh, trẻ nh́n thế giới "từ trên cao" và nhận ra thế giới rơ hơn. Chơi đùa mang lại những kinh nghiệm mới (trẻ học được rằng trái bóng biết nẩy lên, một số vật lăn được, những vật khác phát ra tiếng kêu khi lắc, vân vân). Cũng vào lúc đó trẻ học nói, và dần dần có thể chia sẻ những kinh nghiệm của ḿnh với người khác.

Nếu trẻ nh́n thấy một vật nó thích hoặc có ấn tượng chúng bắt đầu nói rằng "cái này to", "cái kia đẹp". Nếu chúng thấy một đồ vật hoặc một con vật chúng đă biết, chúng sẽ chỉ tay vào và lặp đi lặp lại tên đồ vật hoặc con vật đó, và chúng c̣n muốn nhắc đến cái tên đó nhiều lần cho người khác để bày tỏ ấn tượng hoặc những phát hiện mới.

Lănh thổ

Thông thường, động vật sống ở những vùng phân định rơ ràng; nơi đó chúng xây tổ, nuôi con, kiếm và trữ thức ăn, chơi đùa, vân vân. Nơi này được gọi là lănh thổ, và chúng bảo vệ lănh thổ của ḿnh khỏi những kẻ lạ mặt.

Để chúng tỏ cho kẻ khác biết sự có mặt của ḿnh trong phạm vi lănh thổ và khẳng định đó là lănh thổ của chúng đối với những ai có thể xâm phạm, nhiều loài động vật đánh dấu lănh thổ của ḿnh bằng những cách khác nhau. Chẳng hạn chúng có thể phát ra những tín hiệu âm thanh (giống như tiếng chim hót hoặc tiếng sói hú), hoặc những tín hiệu h́nh ảnh (chẳng hạn những vết cào trên thân cây) hoặc tín hiệu mùi (chẳng hạn phát mùi qua nước bọt hoặc nước tiểu). Nếu một kẻ lạ không màng đến nh̗